SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH BẢN LĨNH, SÁNG TẠO, TÌNH NGUYỆN, HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN. THI ĐUA LẬP THÀNH TÍCH CHÀO MỪNG ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU HỘI SINH VIÊN VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH LẦN THỨ X, NHIỆM KỲ 2018 - 2020. HƯỚNG TỚI CHÀO MỪNG ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC HỘI SINH VIÊN VIỆT NAM LẦN THỨ X, NHIỆM KỲ 2018 - 2023.   
Năm mới

THỰC TRẠNG SỬ DỤNG HỌC LIỆU CỦA SINH VIÊN THEO HỌC CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH NĂM 2019

Thứ năm - 02/05/2019 14:41
Học tập và nghiên cứu khoa học để bồi dưỡng, nâng cao kiến thức là hai nhiệm vụ quan trọng của sinh viên, đặc biệt là sinh viên khối ngành Y dược vì trực tiếp liên quan đến sức khỏe con người. Hiện nay, với sự phát triển, đổi mới về phương pháp giáo dục đại học, hình thức đào tạo theo tín chỉ thể hiện sự nổi trội với việc lấy người học làm trung tâm, yêu cầu sinh viên chủ động tự học, tự nghiên cứu, tiếp cận học liệu nhiều hơn. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nguồn học liệu phát triển ngày càng đa dạng, phong phú gao gồm: Sách giáo trình, tham khảo, chuyên khảo, báo, tạp chí chuyên ngành, video hiện vật, khóa luận tốt nghiệp, luận văn, luận án, công trình NCKH, kỉ yếu hội thảo …
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Học tập và nghiên cứu khoa học để bồi dưỡng, nâng cao kiến thức là hai nhiệm vụ quan trọng của sinh viên, đặc biệt là sinh viên khối ngành Y dược vì trực tiếp liên quan đến sức khỏe con người. Hiện nay, với sự phát triển, đổi mới về phương pháp giáo dục đại học, hình thức đào tạo theo tín chỉ thể hiện sự nổi trội với việc lấy người học làm trung tâm, yêu cầu sinh viên chủ động tự học, tự nghiên cứu, tiếp cận học liệu nhiều hơn. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nguồn học liệu phát triển ngày càng đa dạng, phong phú gao gồm: Sách giáo trình, tham khảo, chuyên khảo, báo, tạp chí chuyên ngành, video hiện vật, khóa luận tốt nghiệp, luận văn, luận án, công trình NCKH, kỉ yếu hội thảo …
Tuy nhiên thực trạng sử dụng học liệu còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu Tahir Jameel tại đại học King Abdulaziz, Jeddah, 46,1 % sinh viên đánh giá sách giáo trình y khoa là nguồn học liệu hữu ích nhất. Khoảng một phần ba (34,3%) học sinh thừa nhận rằng, do khả năng tiếng Anh kém, họ không hiểu tài liệu giảng dạy trong sách giáo trình viết bằng tiếng Anh và khoảng 19,3 % thiếu quan tâm đến giáo trình viết bằng tiếng Anh. Tại Việt Nam, theo nghiên cứu Lê Quỳnh Chi (2016) có 79,3% sinh viên ít sử dụng thông tin, học liệu tại thư viện trường (mức độ thỉnh thoảng, ít khi, không bao giờ). Theo nghiên cứu của Nguyễn Chí Trung (2015), trong thời gian rảnh rỗi sinh viên sử dụng internet chiểm tỷ lệ cao nhất (86,5%), việc lựa chọn địa điểm học ở nhà cao hơn thư viện. Mục đích sử dụng tài liệu phục vụ học tập cao nhất (88,8%). Ngoài việc sử dụng ngôn ngữ là tiếng Việt là chủ yếu, chỉ 37% sinh viên quan tâm đến tài liệu tiếng Anh, ngôn ngữ khác chiếm tỷ lệ ít.
Trường Đại học Y Dược Thái Bình đã chuyển đổi hình thức đào tạo niên chế sang tín chỉ với tất cả mã ngành, việc triển khai thành công gắn liền với nhiều yếu tố, trong đó nguồn học liệu đóng một vai trò cốt yếu, quyết định đến sự thành công trong học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên. Trên thế giới, “Học liệu mở” đã phát triển sâu rộng thành một phương pháp giáo dục mới, với mục đích đưa toàn bộ nội dung giảng dạy của mình lên web và cho phép người dùng internet ở mọi nơi trên thế giới truy nhập hoàn toàn miễn phí. Tiếp cận với học liệu mở sinh viên có thể tự chủ động cập nhật kiến thức, tiếp cận phương pháp hiệu quả hơn, kích thích sự năng động sáng tạo của bản thân.
Với mục đích mô tả thực trạng sử dụng học liệu của sinh viên theo học chương trình đào tạo tín chỉ, góp phần cung cấp thông tin có cơ sở để phát triển học liệu mở tại trường Đại học Y Dược Thái Bình, chúng em tiến hành thực hiện đề tài Thực trạng sử dụng học liệu của sinh viên theo học chương trình đào tạo tín chỉ tại trường Đại học Y Dược Thái Bình năm 2019”
Mục tiêu nghiên cứu:
1. Mô tả thực trạng sử dụng học liệu của sinh viên theo học chương trình đào tạo tín chỉ tại trường Đại học Y Dược Thái Bình
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu được thực hiện đối với sinh viên từ năm thứ nhất đến năm thứ tư của tất cả các mã ngành tại trường Đại học Y Dược Thái Bình.
2.2. Thời gian nghiên cứu:
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 01 năm 2019 đến tháng 5 năm 2019
2.3. Địa nghiên cứu:
Trường Đại học Y Dược Thái Bình
2.4. Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp dịch tễ học mô tả với cuộc điều tra cắt ngang có phân tích.
Cỡ mẫu và chọn mẫu
  1. Cỡ mẫu
Sử dụng công thức áp dụng cho nghiên cứu mô tả cắt ngang:

Z1-α/2­ = 1,96 là giá trị của hệ số giới hạn tin cậy ứng với α= 0,05 với độ tin cậy của ­ước lượng là 95%.
Ước tính với cỡ mẫu lớn nhất, lấy p = 0,5.
d là khoảng sai số mong muốn, lấy d = 0,05
Từ công thức trên tính đ­ược: n = 384.
Trên thực tế chúng em tiến hành điều tra 400 sinh viên
  1. Chọn mẫu
Tiến hành lập danh sách các lớp, sinh viên từ năm thứ nhất đến năm thứ tư. Chọn mỗi khối lấy 100 sinh viên, dựa vào tỷ lệ số sinh viên theo từng mà ngành, chọn 60 sinh viên lớp Y đa khoa, 10 sinh viên lớp dược, 10 sinh viên lớp Y học cổ truyền, 10 sinh viên lớp điều dưỡng, 10 sinh viên lớp YTCC+YHDP bằng phương pháp chọn mấu ngầu nhiên.
2.5. Phương pháp thu thập thông tin, xử lý, phân tích số liệu
Thu thập thông tin bằng bộ phiếu điều tra có sẵn. Mẫu bộ phiếu điều tra được xây dựng dựa vào nội dung, mục tiêu nghiên cứu, hoàn thiện khi điều tra thử.
Nhập phiếu, xử lý phân tích số liệu theo chương trình Epidata, SPSS 20.0
III. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Nghiên cứu được thực hiện trên 400 sinh viên từ từ năm thứ nhất đến năm thứ tư của tất cả các mã ngành tại trường Đại học Y Dược Thái Bình. Độ tuổi trung bình của nhóm đối tượng là 21. Sinh viên ít tuổi nhất 18 tuổi, lớn tuổi nhất 27 tuổi. Tỷ lệ Nam/Nữ = 123/277 = 1/2,25.

Biểu đồ 1: Thói quen sử dụng thời gian rảnh rỗi của sinh viên
Thời gian rảnh rỗi của sinh viên sử dụng Internet chiếm tỉ lệ cao nhất (81,3%), thứ hai là nghe nhạc chiếm 66%, chơi game chiếm 39%.  Như vậy với sự phát triển của mạng Internet, máy tính, điện thoại thông minh, sinh viên sử dụng thời gian rảnh rỗi của mình vào các hoạt động liên quan đến nó nhiều hơn. Việc lựa chọn đọc sách ở nhà, đi thư viện hay tham gia các hoạt động khác trong thời gian rảnh rỗi chiếm tỉ lệ thấp. Kết quả của chúng em tương tự với kết quả của Nguyễn Chi Trung (2016), sinh viên sử dụng Internet chiếm tỉ lệ cao nhất 86,5%.

Biểu đồ 2: Thời gian giành cho việc sử dụng học liệu của sinh viên
Đào tạo theo tín chỉ ngoài việc học tập ở trên lớp sinh viên cần phải tích cực chủ động trong việc tự học và tự nghiên cứu. Đặc biệt với sinh viên ngành Y Dược với lượng kiến thức lớn, lịch học lý thuyết, lâm sàng xen kẽ, phải trải qua nhiều kì thi vì vậy sinh viên cần dành thời gian nhất định để tự nghiên cứu học liệu. Tỉ lệ sinh viên dành thời gian từ 2 đến dưới 3 giờ để học chiếm tỷ lệ cao nhất (29,3%). Nghiên cứu này cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Chí Trung (2016), phần lớn sinh viên dành thời gian từ 1 đến dưới 2 giờ để học. Cho thấy sinh viên khối ngành Y Dược cần dành nhiều thời gian hơn cho việc tự học.
                       
 

Biểu đồ 3: Học liệu sinh viên đang có
Học liệu mà sinh viên có nhiều nhất là sách giáo trình (93%), tiếp đến là các sách tham khảo chiếm 50,5%. Đây là 2 nguồn học liệu có chất lượng uy tín, tuy nhiên cần mất tiền mua và không tiện lợi. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra nguồn học liệu là video, hiện vật được sử dụng nhiều chiếm 41,5%. Nguồn học liệu này không sẵn có ở thư viện mà sinh viên phải tìm kiếm trên Internet, trao đổi với nhau. Có 1 thực trạng là các học liệu từ các công trình NCKH, kỉ yếu hội thảo, luận văn, luận án chiếm tỉ lệ thấp. Mà đây là nguồn học liệu cần thiết liên tục được đổi mới và cập nhật, sinh viên cần được biết đến và tiếp cận.
Bảng 1: Mức độ đáp ứng đầy đủ nhu cầu học liệu theo giới
  Đầy đủ học liệu
theo nhu cầu
Không đầy đủ học liệu theo nhu cầu    
N % N % Tổng p = 0,029
Nam 42 34,1 81 65,9 100%
Nữ 127 45,8 150 54,2 100%
Tỉ lệ sinh viên nữ có đầy đủ học liệu theo nhu cầu cá nhân (45,8%), cao hơn sinh viên nam (34,1%). Với p < 0,05 có ý nghĩa thống kê. Nhóm nghiên cứu cho rằng có thể do sinh viên nữ chăm chỉ, cẩn thận hơn trong việc tìm kiếm sử dụng học liệu trong quá trình tự học so với sinh viên nam. Kết quả nghiên cứu này tương tự với nghiên cứu của Tahir Jameel tại đại học King Abdulaziz, Jeddah, sinh viên nữ ưa thích sử dụng các nguồn học liệu hơn sinh viên nam.

Biểu đồ 4: Mục đích sử dụng học liệu của sinh viên
Sinh viên sử dụng học liệu với mục đích chính là phục vụ các môn học trên lớp chiếm 88%. Tỉ lệ phục vụ nghiên cứu hoa học là rất thấp chiếm 14,8%, cần đẩy mạnh công tác truyền thông cũng như vai trò, lợi ích của nghiên cứu khoa học cho sinh viên nhà trường.

            Biểu đồ 5: Ngôn ngữ học liệu sinh viên sử dụng
            Ngoài ngôn ngữ tiếng Việt, chỉ có 33% sinh viên sử dụng học liệu bằng tiếng Anh, còn các thứ tiếng khác chiếm tỉ lệ thấp. Nghiên cứu này có kết quả tương tự với nghiên cứu của Nguyễn Chí trung chiếm 37%. Với xu thế hội nhập, muốn cập nhật kiến thức sinh viên cần tích cực hơn nữa nâng cao trình độ ngoại ngữ để tiếp cận với các nguồn học liệu có chất lượng.
Bảng 2: Mục đích của sinh viên đến thư viện
Mục đích đến thư viện N %
Mượn, đọc học liệu tại chỗ 114 28,5%
Mượn học liệu về nhà 223 55,8%
Tìm chỗ ôn bài 283 70,8%
Vào mạng internet 19 4,8%
Khác 21 5,3%
Tỷ lệ sinh viên đến thư viện mục đích lớn nhất là tìm chỗ ôn bài 70,8%, sau đó là mượn học liệu về nhà 55,8%, mượn, đọc học liệu tại chỗ 28,5%. Thư viện là nơi cung cấp nguồn học liệu rất lớn, uy tín, chất lượng. Đặc biệt với sinh viên trường Y dược cần khai thác nguồn học liệu này. Những học liệu này sinh viên không được mượn về nhà mà cần đọc tại chỗ. Vì vậy cần có cơ chế hỗ trợ cho các bạn sinh viên, giúp sinh viên tiếp cận nhiều hơn với nguồn học liệu quý giá này.

Biểu đồ 6: Sinh viên tự đánh giá chất lượng nguồn học liệu ở thư viện
Phần lớn sinh viên đánh giá cao mức độ đáp ứng, cập nhật và phù hợp với nguồn học liệu ở thư viện. Tuy nhiên còn 1/3 sinh viên ( 34,3%) đánh giá mức độ cập nhật của nguồn học liệu ở thư viện còn chưa kịp thời. Có thể do các bạn sinh viên chưa thường xuyên cập nhật nguồn học liệu thư viện, hoặc do khó khăn trong quá trình tìm kiến, tra cứu học liệu mới, vì thế cần phải khắc phục điều này.

Biểu đồ 7: Mức độ sử dụng internet của sinh viên
            Sinh viên với sự phát triển của công nghệ thông tin, tỷ lệ thường xuyên sử dụng mạng internet là rất cao (88%), vì thế có sự thay đổi về việc tìm kiếm và sử dụng học liệu. Sinh viên ưa thích hơn với nguồn học liệu trên internet miễn phí, cập nhật. Tuy nhiên, cần có nhiều hơn các kỹ năng để sinh viên tham khảo, lựa chọn những nguồn thông tin chính xác. Ngồn học liệu ở là nguồn học liệu chất lượng cao, cho phép người dùng internet truy cập miễn phí, được phép chia sẻ là nguồn học liệu đáp ứng với nhu cầu, xu thế với sinh viên trong thời đại 4.0 hiện nay.
 
 

Biểu đồ 8: Mức độ tán thành việc sử dụng học liệu mở
Tỷ lệ sinh viên tán thành và rất tán thành việc sử dụng học liệu mở là rất cao, chiếm 98%. Cần thiết quan tâm, nghiên cứu về nguồn học liệu này để đáp ứng nhu cầu của sinh viên cũng như bắt kịp với xu hướng của thế giới.
IV. Kết luận
Nghiên cứu được thực hiện trên 400 sinh viên từ từ năm thứ nhất đến năm thứ tư của tất cả các mã ngành tại trường Đại học Y Dược Thái Bình.
- Độ tuổi trung bình của nhóm đối tượng là 21. Sinh viên ít tuổi nhất 18 tuổi, lớn tuổi nhất 27 tuổi. Tỷ lệ Nam/Nữ = 123/277 = 1/2,25.
- Thời gian rảnh rỗi của sinh viên sử dụng Internet chiếm tỉ lệ cao nhất (81,3%), thứ hai là nghe nhạc chiếm 66%, chơi game chiếm 39%.
- Tỉ lệ sinh viên dành thời gian từ 2 đến dưới 3 giờ để học chiếm tỷ lệ cao nhất (29,3%).
- Học liệu mà sinh viên có nhiều nhất là sách giáo trình (93%), tiếp đến là các sách tham khảo chiếm 50,5%. Video, hiện vật được sử dụng nhiều chiếm 41,5%, các học liệu từ các công trình NCKH, kỉ yếu hội thảo, luận văn, luận án chiếm tỉ lệ thấp.
- Tỉ lệ sinh viên nữ có đầy đủ học liệu theo nhu cầu cá nhân (45,8%), cao hơn sinh viên nam (34,1%) (p<0,05).
- Sinh viên sử dụng học liệu với mục đích chính là phục vụ các môn học trên lớp chiếm 88%. Tỉ lệ phục vụ nghiên cứu hoa học là rất thấp chiếm 14,8%
- Ngoài ngôn ngữ tiếng Việt, chỉ có 33% sinh viên sử dụng học liệu bằng tiếng Anh, còn các thứ tiếng khác chiếm tỉ lệ thấp.
- Tỷ lệ sinh viên đến thư viện mục đích lớn nhất là tìm chỗ ôn bài 70,8%, sau đó là mượn học liệu về nhà 55,8%, mượn, đọc học liệu tại chỗ 28,5%.
- Phần lớn sinh viên đánh giá cao mức độ đáp ứng, cập nhật và phù hợp với nguồn học liệu ở thư viện. Tuy nhiên còn 1/3 sinh viên ( 34,3%) đánh giá mức độ cập nhật của nguồn học liệu ở thư viện còn chưa kịp thời.
- Sinh viên thường xuyên sử dụng mạng internet là 88%, Tỷ lệ sinh viên tán thành và rất tán thành việc sử dụng học liệu mở là rất cao, chiếm 98%.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. Medical students’ preferences towards learning resources and their study habits at King Abdulaziz University, Jeddah, Saudi Arabia
  2. Nguyễn Chí Trung (2016) Nhu cầu học liệu của sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – tiền đề để xây dựng học liệu mở đáp ứng yêu cầu đào tạo tín chỉ
  3. Lê Quỳnh Chi (2016) - THÓI QUEN SỬ DỤNG THÔNG TIN TRONG THƯ VIỆN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  4. HỌC LIỆU MỞ VỚI VIỆC NHẬN DẠNG NHU CẦU SỬ DỤNG CỦA NGƯỜI DẠY VÀ NGƯỜI HỌC TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở HÀ NỘI   Trần Thị Thanh Vân*1
  5. NÂNG CAO TÍNH CHỦ ĐỘNG CỦA SINH VIÊN – GIẢI PHÁP QUAN TRỌNG ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ Đào Ngọc Cảnh và Huỳnh Văn Đà1
  6. ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG VÀ THÓI QUEN SỬ DỤNG TÀI LIỆU TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN, HỌC VIÊN CAO HỌC VÀ THỰC TRẠNG TẠI TRUNG TÂM HỌC LIỆU TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ Lâm Thị Hương Duyên1 , La Hoàng Kim Yến Phượng1 , Nguyễn Lê Ánh Tuyết 1 và Trần Thụy Vân Anh1 1 Khoa Khoa học Xã hội & Nhân văn, Trường Đại học Cần Thơ
  7. NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VỀ HỌC LIỆU MỞ Nguyễn Thị Kim Dung*, Bùi Thanh Thuỷ**1
  8. “BÀN VỀ NGUỒN HỌC LIỆU PHỤC VỤ SINH VIÊN TRONG QUÁ TRÌNH HỌC TẬP VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC THEO PHƯƠNG THỨC ĐÀO TẠO TÍN CHỈ TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC” ThS. Nguyễn Thị Trang Nhung ThS. Phạm Tiến Toàn Khoa Thông tin - Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Hà Nội 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Xếp hạng: 0 - 0 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Tuần 23: Từ 29/05 đến 29/05/2019
Thứ 2:
- Giao ban VP
- Nhóm Dược - LCB HTC sinh nhật 3 tuổi
Thứ 3:
- Tổng hợp hồ sơ SV5T
- Lớp học CT scaner - CLB Học tích cực
Thứ 4:
- Họp xét Danh hiệu "Sinh viên 5 tốt", "Tập thể Sinh viên 5 tốt" cấp trường
- CLB YHCT sinh hoạt
Thứ 5:
- CLB Khoa học trẻ họp BCN
Thứ 6:
- Gửi hồ sơ xét tặng Sinh viên 5 tốt, Tập thể Sinh viên 5 tốt cấp tỉnh
Thứ 7:
Chủ nhật: - CLB Guitar sinh hoạt
- CLB Tiếng Anh sinh hoạt
Đăng ký nhận tin

Nhập địa chỉ email của bạn

Đăng nhập
Facebook
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây