SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH BẢN LĨNH, SÁNG TẠO, TÌNH NGUYỆN, HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN. THI ĐUA LẬP THÀNH TÍCH CHÀO MỪNG ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU HỘI SINH VIÊN VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH LẦN THỨ X, NHIỆM KỲ 2018 - 2020. HƯỚNG TỚI CHÀO MỪNG ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC HỘI SINH VIÊN VIỆT NAM LẦN THỨ X, NHIỆM KỲ 2018 - 2023.   
Năm mới

NHẬN XÉT KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI CỦA SINH VIÊN Y1 KHÓA 47 - ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH SAU CHƯƠNG TRÌNH TỌA ĐÀM HIẾN MÁU NĂM HỌC 2017 - 2018

Thứ sáu - 03/05/2019 14:45
Trong những năm gần đây nhu cầu máu ngày càng tăng. Theo ban chỉ đạo quốc gia vận động hiến máu tình nguyện (HMTN) nước ta cần khoảng 1,8 triệu đơn vị máu/năm, tức khoảng 4.500 đơn vị máu/ngày. Năm 2018, toàn quốc đã vận động và tiêp nhận 1.336.842 đơn vị máu (quy đổi về thể tích 250 ml là 1.576.933 đơn vị máu), trong đó 98,3% lượng máu là tiếp nhận từ người HMTN, tương đương với 1,68% dân số tham gia hiến máu, tỷ lệ hiến máu nhắc lại đạt 42,5%
MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT. 4
DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ.. 5
DANH MỤC BIỂU ĐỒ.. 5
DANH MỤC BẢNG.. 5
ĐẶT VẤN ĐỀ. 6
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU.. 8
1.1. Chương trình Tọa đàm tìm hiểu về hiến máu tình nguyện. 8
1.2 Khái quát về kiến thức, thái độ và hành vi hiến máu hiện nay. 8
1.2.1 Khái quát về kiến thức, thái độ và hành vi ở người hiến máu. 8
1.2.2 Mối quan hệ giữa kiến thức, thái độ và hành vi của người hiến máu: 9
1.2.3 Mục đích, nội dung của công tác vận động hiến máu tình nguyện. 10
1.2.4. Những yếu tố ảnh hưởng tới thái độ và hành vi ở người đã có kiến thức về hiến máu tình nguyện. 11
1.2.5. Một số nguy cơ ở người không có kiến thức đầy đủ, thái độ không đúng đắn nhưng vẫn tham gia hiến máu. 12
1.3. Tiêu chuẩn người hiến máu. 12
1.3.1. Tuổi 12
1.3.2. Sức khỏe. 12
1.3.3. Ngoài các tiêu chuẩn quy định trên, việc được hiến máu do bác sỹ khám tuyển chọn người hiến máu xem xét, quyết định. 14
1.3.4. Cơ sở khoa học và thực tiễn chứng minh hiến máu theo chỉ dẫn của ngành y tế là không có hại đối với sức khỏe. 14
1.4. Trách nhiệm của người đăng ký hiến máu. 15
1.5. Các nghiên cứu đã được thực hiện. 16
1.5.1. Các nghiên cứu trên thế giới 16
1.5.2. Các nghiên cứu đã thực hiện trong nước. 17
Chương II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.. 19
2.1. Đối tượng nghiên cứu. 19
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu. 19
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu. 19
2.1.3 Thời gian nghiên cứu. 19
2.2. Phương pháp nghiên cứu. 20
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu. 20
2.2.2. Cỡ mẫu và chọn mẫu. 20
2.2.3. Quy trình thu thập số liệu. 20
2.3. Các chỉ số, biến số và tiêu chuẩn đánh giá trong nghiên cứu. 21
2.3.1. Các chỉ số trong nghiên cứu. 21
2.3.2. Một số tiêu chuẩn. 22
2.4. Xử lý số liệu. 23
2.5. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu. 23
2.6. Hạn chế sai số. 23
Chương III. KẾT QUẢ.. 25
3.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu. 25
3.2. Đánh giá về kiến thức của đối tượng nghiên cứu. 26
3.3. Đánh giá về thái độ của đối tượng nghiên cứu. 28
3.4. Đánh giá về hành vi của đối tượng nghiên cứu trước và sau tọa đàm.. 30
3.5. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến hoạt động hiến máu tình nguyện. 30
CHƯƠNG IV. BÀN LUẬN.. 34
4.1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu. 34
4.1.1. Tuổi 34
4.1.2. Giới tính. 34
4.1.3. Dân tộc. 34
4.2. Nhận xét về kiến thức của đối tượng nghiên cứu. 34
4.3. Nhận xét về thái độ của đối tượng nghiên cứu. 36
4.4. Nhận xét về hành vi của đối tượng nghiên cứu. 36
4.5. Các yếu tố liên quan đến HMTN.. 37
4.5.1. Mối liên quan giữa thái độ và hành vi về HMTN ở đối tượng NC. 37
4.5.2. Mối liên quan giữa kiến thức và thái độ với HMTN ở đối tượng NC.. 38
4.5.3. Mối liên quan giữa kiến thức và hành vi ở đối tượng nghiên cứu. 38
CHƯƠNG V. KẾT LUẬN.. 40
5.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu. 40
5.2. Nhận xét kiến thức, thái độ, hành vi của đối tượng nghiên cứu. 40
5.3. Nhận xét một số liên quan đến việc HMTN.. 40
CHƯƠNG VI. KIẾN NGHỊ 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO.. 43
MẪU PHIẾU PHỎNG VẤN.. 45
 
 
 
 
 
  
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

DANH MỤC VIẾT TẮT

 
BCG Bacillus Calmette–Guérin
(Vắc xin phòng bệnh Lao)
BCN Ban chủ nhiệm
CLB Câu lạc bộ
CMV Cytomegalovirus
ĐH Đại học
ELISA Enzyme-Linked Immunosorbent Assay
Xét nghiệm miễn dịch liên kết enzyme
HBsAg Hepatitis B surface Antigen
(kháng nguyên bề mặt virus viêm gan B)
HMTN Hiến máu tình nguyện
HIV/AIDS Human immunodeficiency virus infection / Acquired immunodeficiency syndrome
(Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người)
QLKH Quản lý khoa học
SVSTĐ Sinh viên sau tọa đàm
SVTGTĐ Sinh viên tham gia tọa đàm
SVTTĐ Sinh viên trước tọa đàm
Tọa đàm
XH Xã hội
NC Nghiên cứu
 
 
 
 
 
 
 

DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ Tên biểu đồ Trang
3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới tính  
3.2 Phân bố đối tượng tham gia nghiên cứu theo dân tộc  
3.3 Nguồn tiếp cận thông tin vê HMTN của đối tượng trước
khi tham gia tọa đàm
 
3.4 Mục đích của HMTN theo đối tượng nghiên cứu (nghiên cứu ở đối tượng trước tọa đàm)  
3.5 Lý do chưa tham gia HMTN ở các đối tượng nghiên cứu trước tọa đàm  

DANH MỤC BẢNG

Bảng Tên bảng Trang
3.1 Đặc điểm về tuổi của đối tượng nghiên cứu  
3.2 Kiến thức về HMTN của đối tượng trước và sau tọa đàm  
3.3 Thái độ của đối tượng về hiến máu tình nguyện  
3.4 Hành vi của sinh viên năm nhất về hiến máu tình nguyện.  
3.5 Sự liên quan giữa sinh viên nam và nữ với thái độ về hiến máu  
3.6 Sự liên quan giữa sinh viên nam và nữ với giữa sinh viên nam và nữ với thái độ ủng hộ người thân hiến máu  
3.7 Sự liên quan giữa sinh viên nam và nữ với hành vi hiến máu  
3.8 Sự liên quan giữa thái độ và hành vi hiến máu ở đối tượng NC  
3.9 Mối liên quan giữa kiến thức và thái độ về hiến máu ở đối tượng NC  
3.10 Mối liên quan giữa kiến thức và hành vi hiến máu ở đối tượng NC  
 

 

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm gần đây nhu cầu máu ngày càng tăng. Theo ban chỉ đạo quốc gia vận động hiến máu tình nguyện (HMTN) nước ta cần khoảng 1,8 triệu đơn vị máu/năm, tức khoảng 4.500 đơn vị máu/ngày. Năm 2018, toàn quốc đã vận động và tiêp nhận 1.336.842 đơn vị máu (quy đổi về thể tích 250 ml là 1.576.933 đơn vị máu), trong đó 98,3% lượng máu là tiếp nhận từ người HMTN, tương đương với 1,68% dân số tham gia hiến máu, tỷ lệ hiến máu nhắc lại đạt 42,5%  [2].
Ở nhiều nước trên thế giới đã tiến hành các hoạt động truyền thông vận động người dân tự nguyện hiến máu và đã đạt được những kết quả tốt đẹp. Ở nước ta, phong trào HMTN đã và đang được sự quan tâm sâu sắc của toàn xã hội, công tác tuyên truyền, vận động HMTN được đẩy mạnh, tạo sự lan tỏa trong cộng đồng, từ đó nâng cao nhận thức, quan niệm của người dân về HMTN; năm 2018, Ban Chỉ đạo các cấp đã tổ chức 16.122 cuộc tuyên truyền, vận động 1.194.373 lượt người tham gia hiến máu, Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương đã tiếp nhận được 323.615 đơn vị máu (chiếm trên 24% tổng lượng máu của cả nước), trong đó hiến máu tình nguyện là 317.513 đơn vị máu (tăng 6.7% so với năm 2017)” [2].
        Tại Thái Bình,Trường Đại học (ĐH) Y Dược là một trường tiên phong trong phong trào vận động hiến máu tình nguyện nhắc lại nhiều lần với phong trào hiến máu tình nguyện ngày càng phát triển mạnh qua từng năm. Năm 2013 trường đã vận động được 1385 đơn vị chiếm 17,98%, năm 2014 là 1423 chiếm 17,55%, năm 2015 là 1574 chiếm 21,15% tổng số lượng máu hiến tình nguyện của tỉnh Thái Bình. Gần đây nhất, vào sáng ngày 08/01/2017, tại đại giảng đường trường Đại học Y Dược Thái Bình đã tổ chức chương trình Chủ Nhật Đỏ lần thứ IX năm 2017 với gần 1000 các bạn sinh viên, thầy cô giáo, cán bộ Nhà trường tham gia thu hồi về được 624 đơn vị máu, đạt 125% so với chỉ tiêu.
        Sinh viên trường Đại học Y Dược Thái Bình luôn là tấm gương đi đầu trong công tác truyên truyền, vận động hiến máu cũng như hiến máu tình nguyện của tỉnh. Nổi bật trong số các chương trình truyền thông về công tác tuyên truyền, vận động hiến máu của sinh viên trường là chương trình “Tọa đàm tìm hiểu về hiến máu” được tổ chức bởi Câu lạc bộ (CLB) Sinh viên vận động hiến máu tình nguyện vào đầu mỗi năm học, chương trình được tổ chức với mục tiêu cải thiện kiến thức, thái độ và hành vi của sinh viên trường đối với công việc hiến máu tình nguyện, đặc biệt là đối với các sinh viên năm nhất mới nhập trường.
        Tuy nhiên chưa có nhiều đề tài nghiên cứu đánh giá về hiệu quả công tác vận động hiến máu của sinh viên trường. Do vậy để có những căn cứ thực tế đầy đủ hơn làm cơ sở cho việc đánh giá hiệu quả hoạt động vận động hiến máu tình nguyện của sinh viên trong những năm qua, trong đó tiêu biểu là chương trình “Tọa đàm tìm hiểu về hiến máu”, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Khảo sát kiến thức, thái độ, hành vi của sinh viên năm nhất trường Đại học Y Dược Thái Bình trước và sau chương trình Tọa đàm hiến máu năm học 2017 - 2018”  với mục tiêu sau:
Nhận xét sự thay đổi về kiến thức, thái độ và hành vi của các sinh viên năm thứ nhất trước và sau chương trình Tọa đàm tìm hiểu về hiến máu
 
 
 
 
 
 

 

CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Chương trình Tọa đàm tìm hiểu về hiến máu tình nguyện

Chương trình “Tọa đàm tìm hiểu về Hiến máu tình nguyện” là chương trình truyến thống được tổ chức thường niên của Hội Sinh viên trường, được triển khai tổ chức lần đầu tiên từ năm 2010 và vẫn duy trì cho đến năm học này. Chương trình tọa đàm là một trong những phương pháp truyền thông trực tiếp tiêu biểu về công tác tuyên truyền, vận động hiến máu của sinh viên do CLB Sinh viên vận động hiến máu trường đóng vai trò phụ trách nội dung dưới sự chỉ đạo của Ban Thư ký Hội Sinh viên cùng sự hỗ trợ của các đơn vị trong và ngoài trường, chương trình được tổ chức vào đầu mỗi năm học với đối tượng là các chi hội khối sinh viên năm thứ nhất. Buổi tọa đàm được tổ chức một lần tại Đại giảng đường với quy mô trung bình các năm gần 300 sinh viên, bao gồm các chi hội sinh viên nhận thông báo từ Hội Sinh viên trường, các đồng chí là cán bộ Đoàn TN - Hội Sinh viên trường cùng toàn bộ các thành viên CLB Sinh viên vận động hiến máu tình nguyện. Tại buổi tọa đàm, các sinh viên sẽ được cung cấp những kiến thức cơ bản nhất cũng như giải đáp các thắc mắc của các sinh viên về hiến máu tình nguyện từ các đại biểu tham dự và từ Ban tổ chức.

1.2 Khái quát về kiến thức, thái độ và hành vi hiến máu hiện nay

1.2.1 Khái quát về kiến thức, thái độ và hành vi ở người hiến máu

Mối quan hệ giữa kiến thức, thái độ và hành vi của con người nói chung và người hiến máu nói riêng có liên quan mật thiết với môi trường sống (tự nhiên và xã hội). Đó là mối quan hệ tác động và chi phối lẫn nhau được thể hiện rất đa dạng. Hiểu biết sâu sắc về vấn đề này để vận dụng trong việc vận động hiến máu, tuyển chọn và chăm sóc người hiến máu, tổ chức thu gom tiếp kiến máu....là một trong những yêu cầu quan trọng nhất của người làm công tác truyền máu. Do tính chất trừu tượng và đa dạng của kiến thức, thái độ, hành vi và mối quan hệ với môi trường sống của người nên đây cũng là một nội dung khó nhất, phức tạp nhất trong đào tạo cán bộ truyền máu hiện nay [8].
  1. Các lý do để cá nhân hiến máu
Có nhiều lý do để cá nhân đi hiến máu. Theo kết quả một số nghiên cứu thì đa số người tự nguyện hiến máu với lý do là mong muốn làm một việc việc nhân đạo, nhân văn để cứu chữa người bệnh đang cần máu; ngoài ra còn có các lý do như: đi để được kiểm tra sức khỏe, hoặc để được kiến tiền và quà cùng giấy chứng kiến,; và đi hiến máu để mong giảm cân hoặc ngược lại để tăng cân [8].
b. Thế nào là người có kiến thức đầy đủ về hiến máu tình nguyện?
Người có kiến thức đầy đủ về hiến máu tình nguyện là người nêu được sự cần thiết, ý nghĩa của hiến máu tình nguyện và hiểu được hiến máu theo hướng dẫn của ngành y tế là không có hại tới sức khỏe, trình bày được tiêu chuẩn, điều kiện của người hiến máu an toàn; phải là người biết cách tự rèn luyện nâng cao sức khỏe để có thể tiếp tục hiến máu một cách an toàn [8].
c. Thế nào là người có thái độ đúng đắn về hiến máu tình nguyện?
Người có thái độ đúng đắn về hiến máu tình nguyện là người hoàn toàn tự nguyện hiến máu cứu người, trung thực, sẵn sàng phối hợp với trung tâm truyền máu và tuyên truyền viên, nghiêm túc thực hiện theo hướng dẫn của cán bộ y tế và tuyên truyền viên, cởi mở, tôn trọng mọi người tại điểm hiến máu, có trách nhiệm với người bệnh hiến máu [8].
d. Thế nào là người có hành vi phù hợp về hiến máu tình nguyện?
Người có hành vi phù hợp về hiến máu tình nguyện là người chỉ hiến máu khi mình có đủ tiêu chuẩn, điều kiện sức khỏe và nhất định không hiến máu nếu thấy mình không đủ điều kiện để hiến máu an toàn. Ngoài ra cần phải tự rèn luyện nâng cao sức khỏe để hiến máu nhắc lại an toàn, có tinh thần vận động ủng hộ bạn bè người thân hiến máu tình nguyện [8]

1.2.2 Mối quan hệ giữa kiến thức, thái độ và hành vi của người hiến máu:

Thái độ
Kiến thức
 
XH
 Hành vi
 
 
 

Sơ đồ 1. Mối quan hệ giữa thái độ, kiến thức và hành vi người HMTN
 
Theo Sơ đồ 1, kiến thức, thái độ và hành vi của một người về hiến máu tình nguyện có liên quan mật thiết với nhau và chịu sự ảnh hưởng rất lớn của môi trường sống, trong đó kiến thức đóng vai trò quyết định đến thái độ và hành vi của đối tượng về hiến máu tình nguyện. Vì vậy muốn thay đổi kiến thức về hiến máu tình nguyện thì trước hết phải bằng những hoạt động cụ thể tác động vào các giác quan như thị giác (quan trọng nhất), thính giác, xúc giác, vị giác và khứu giác của mỗi người. Hoạt động thực tế (hành vi về hiến máu tình nguyện) có vai trò kiểm định để củng cố kiến thức, không thể có kiến thức đầy đủ khi chưa có hoạt động trải nghiệm thực tế [9].
Dưới tác động của môi trường sống thì một người có kiến thức đầy đủ có thể hiến máu hoặc không hiến máu (mặc dù họ có thể có đủ hoặc không đủ tiêu chuẩn, điều kiện sức khỏe). Ngược lại, một người kiến thức không đầy đủ thì dưới tác động của môi trường sống họ có thể không hiến máu hoặc có hiến máu (mặc dù họ có thể có đủ hoặc không đủ tiêu chuẩn, điều kiện sức khỏe). Như vậy, môi trường sống trong những điều kiện nhất định có vai trò quyết định đến việc chuyển đổi hành vi của đối tượng vận động hiến máu. Can thiệp chuyển đổi hành vi thông qua thay đổi môi trường sống được gọi là can thiệp trực tiếp, còn nếu can thiệp thông qua thay đổi kiến thức thì được gọi là can thiệp gián tiếp [9].

1.2.3 Mục đích, nội dung của công tác vận động hiến máu tình nguyện

1.2.3.1 Mục đích

Mục đích của phong trào vận động hiến máu tình nguyện đó là tạo được kiến thức đầy đủ, thái độ đúng đắn về hiến máu tình nguyện và đề ra được các giải pháp can thiệp đúng đắn để giáo dục kiến thức, chuyển đổi hành vi phù hợp về hiến máu tình nguyện cho mọi người trong xã hội [8].

1.2.3.2 Nội dung

Nội dung chủ yếu của vận động hiến máu tình nguyện là truyền tải các kiến thức cơ bản và cần thiết về hiến máu tình nguyện, chia sẻ thông tin, tình cảm, thái độ giữa tuyên truyền viên với mọi người trong xã hội, qua đó tạo cơ hội điều kiện tốt nhất để mỗi người trong xã hội có thể thay đổi kiến thức, thái độ và hành vi cho phù hợp trong việc hiến máu tự nguyện [6][8].

1.2.4. Những yếu tố ảnh hưởng tới thái độ và hành vi ở người đã có kiến thức về hiến máu tình nguyện

Một người có kiến thức đầy đủ về hiến máu tình nguyện nhưng chưa chắc họ sẽ có thái độ đúng đắn và hành vi phù hợp. Sau đây là các yếu tố tác động tới thái độ và hành vi của người đã có kiến thức đầy đủ:

1.2.4.1. Các yếu tố liên quan trực tiếp tới nhân viên y tế và tuyên truyền viên:

Thái độ của đối tượng đối với hiến máu tình nguyện được thể hiện trước hết là với nhân viên y tế và tuyên truyền viên, sau đó là thái độ với người bệnh cần được truyền máu và các đối tượng khác [8]. Như vậy, để đối tượng có thái độ đúng đắn thì trước hết người làm công tác truyền máu và người tuyên truyền viên phải có thái độ đúng đắn với họ và đối với người bệnh cần truyền máu. Kỹ năng giao tiếp của nhân viên truyền máu và tuyên truyền viên với đối tượng mà không tốt sẽ tạo cho đối tượng những thái độ không tốt và hành vi không phù hợp mặc dù họ đã có kiến thức đầy đủ [6][8]. Ngoài ra, việc tổ chức và sắp xếp các quy trình làm việc tại các điểm hiến máu cũng cần phải hợp lý và đảm bảo tôn trọng bí mật riêng tư của đối tượng để tạo thái độ đúng đắn và hành vi phù hợp ở đối tượng [6].

1.2.4.2. Các yếu tố không thuộc về tuyên truyền viên và nhân viên y tế

Các yếu tố tích cực như: Có sự ủng hộ của những người xung quanh, sự trân trọng và quan tâm của xã hội, tình trạng sức khỏe cho phép, chất lượng phục vụ tại điểm tổ chức hiến máu đảm bảo tin cậy, lời mời tham gia hiến máu có thông báo hoặc thư mời rõ ràng, …
Các yếu tố cản trở như: các yếu tố ngược lại với các yếu tố tích cực, bản thân đối tượng được nghe và chứng kiến những thông tin sai lệch về hiến máu tình nguyện [8].

1.2.4.3. Những yếu tố ảnh hưởng tới duy trì hành vi hiến máu nhắc lại

Các yếu tố tích cực như: Ấn tượng tốt đẹp khi hiến máu, sức khỏe sau khi hiến máu hoàn toàn bình thường, các điều kiện cá nhân cho phép, thường xuyên tiếp xúc với các thông tin tích cực, có sự ủng hộ động viên của những người xung quanh, được tư vấn sức khỏe sau khi hiến máu, có thư mời thông báo rõ ràng, điểm tổ chức hiến máu thuận lợi, hấp dẫn tin cậy,…[8].
Ngược lại với các yếu tố tích cực sẽ là các yếu tố cản trở hành vi hiến máu tình nguyện nhắc lại.

1.2.5. Một số nguy cơ ở người không có kiến thức đầy đủ, thái độ không đúng đắn nhưng vẫn tham gia hiến máu.

Người hiến máu không thực hiện đúng theo chỉ dẫn của cán bộ nhân viên y tế khi tham gia hiến máu tình nguyện nên có thể có hại tới sức khỏe. Một người  khi biết mình có hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS nhưng lại cố ý che giấu để được hiến máu dẫn đến lây bệnh cho nhân viên y tế, cho người kiến máu [8]. Người hiến máu khi đã hiến máu ít nhất một lần hoặc nhìn thấy những người xung quanh hiến máu, họ cho rằng việc hiến máu là không có hại tới sức khỏe nên không thực hiện theo các hướng dẫn khi hiến máu và sau hiến máu, như vậy chất lượng máu hiến sẽ không đảm bảo và thậm chí lại ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe của người hiến [8].

1.3. Tiêu chuẩn người hiến máu

Người hiến máu là người có đủ tiêu chuẩn về tuổi, sức khỏe và các điều kiện khác, theo Thông tư 26/2013/TT-BYT về hướng dẫn hoạt động truyền máu, tiêu chuẩn hiến máu cụ thể như sau:

1.3.1. Tuổi

Đối tượng tham gia hiến máu phải từ đủ 18 tuổi đến 60 tuổi [11].

1.3.2. Sức khỏe

Người có cân nặng ít nhất là 42kg đối với phụ nữ, 45 kg đối với nam giới được phép hiến máu toàn phần; người có cân nặng từ 42 kg đến dưới 45 kg được phép hiến không quá 250 ml máu toàn phần mỗi lần; người có cân nặng 45 kg trở lên được phép hiến máu toàn phần không quá 09 ml/kg cân nặng và không quá 500ml mỗi lần [11].
Người có cân nặng ít nhất là 50 kg được phép hiến các thành phần máu bằng gạn tách; người hiến máu có thể hiến một hoặc nhiều thành phần máu trong mỗi lần gạn tách, nhưng tổng thể tích các thành phần máu hiến không quá 500 ml; người có cân nặng ít nhất là 60 kg được phép hiến tổng thể tích các thành phần máu hiến mỗi lần không quá 650 ml [11].
Không mắc các bệnh mạn  tính hoặc cấp tính về thần kinh, tâm thần, hô hấp, tuần hoàn, tiết niệu, tiêu hoá, gan mật, nội tiết, máu và tổ chức tạo máu, bệnh hệ thống, bệnh tự miễn, tình trạng dị ứng nặng; không mang thai vào thời điểm đăng ký hiến máu (đối với phụ nữ); không có tiền sử lấy, hiến, ghép bộ phận cơ thể người; không nghiện ma tuý, nghiện rượu; không có khuyết tật nặng và khuyết tật đặc biệt nặng theo quy định tại Luật Người khuyết tật; không sử dụng một số thuốc được quy định; không mắc các bệnh lây truyền qua đường máu, các bệnh lây truyền qua đường tình dục tại thời điểm đăng ký hiến máu [11].
Lâm sàng:
- Tỉnh táo, tiếp xúc tốt;
- Huyết áp tâm thu trong khoảng từ 100 mmHg đến dưới 160 mmHg và tâm trương trong khoảng từ 60 mmHg đến dưới 100 mmHg;
- Nhịp tim đều, tần số trong khoảng từ 60 lầnđến 90 lần/phút;
- Không có một trong các biểu hiện sau: gày, sút cân nhanh (trên 10% cân nặng cơ thể trong thời gian 6 tháng); da xanh, niêm mạc nhợt; hoa mắt, chóng mặt; vã mồ hôi trộm; hạch to xuất hiện nhiều nơi; sốt; phù; ho, khó thở; tiêu chảy; xuất huyết các loại; có các tổn thương, dấu hiệu bất thường trên da [11].
Xét nghiệm:
- Đối với người hiến máu toàn phần và hiến các thành phần máu bằng gạn tách: nồng độ hemoglobin phải đạt ít nhất bằng 120 g/l; nếu hiến máu toàn phần thể tích trên 350 ml phải đạt ít nhất 125 g/l.
- Đối với người hiến huyết tương bằng gạn tách: nồng độ protein huyết thanh toàn phần phải đạt ít nhất bằng 60g/l và được xét nghiệm trong thời gian không quá 01 tháng;
- Đối với người hiến tiểu cầu, bạch cầu hạt, tế bào gốc bằng gạn tách: số lượng tiểu cầu phải lớn hơn hoặc bằng 150´109/l [11].

1.3.3. Ngoài các tiêu chuẩn quy định trên, việc được hiến máu do bác sỹ khám tuyển chọn người hiến máu xem xét, quyết định.

* Tiêu chuẩn và điều kiện người không nên tham gia hiến máu:
- Những người không nên hiến máu là những người đã nhiễm hoặc đã thực hiện hành vi có nguy cơ nhiễm HIV.
         - Những người đã nhiễm viêm gan B, C và các vius, vi khuẩn lây qua đường máu.
 - Những người có các bệnh mạn tính: bệnh về tim mạch, huyết áp, hô hấp, bệnh lý nặng của dạ dày, ruột… [11].

1.3.4. Cơ sở khoa học và thực tiễn chứng minh hiến máu theo chỉ dẫn của ngành y tế là không có hại đối với sức khỏe

Hiến máu theo hướng dẫn của Bác sỹ là không có hại đối với sức khỏe. Đây là điều đã được chứng minh bằng các cơ sở khoa học và thực tiễn [6][11].

1.3.4.1.  Cơ sở khoa học

Máu là tổ chức dạng lỏng lưu thông trong các mạch máu của cơ thể, gồm nhiều thành phần có nhiệm vụ khác nhau. Thành phần hữu hình là các tế bào máu: Hồng cầu chứa huyết sắc tổ tạo cho máu mầu đỏ và vận chuyển oxy; Bạch cầu tạo khả năng bảo vệ cơ thể; Tiểu cầu tham gia vào quá trình cầm- đông máu giúp chống chảy máu. Các tế bào máu có thời gian sống khác nhau và được bổ sung thường xuyên (đời sống của hồng cầu là 100-120 ngày, bạch cầu là 10-12 giờ và  tiểu cầu là 9-12 ngày). Thành phần lỏng của máu là huyết tương chứa huyết thanh, các kháng thể, các yếu tố đông máu, các chất dinh dưỡng... [9].
Theo các tài liệu y khoa và các kết quả nghiên cứu khoa học, khi người hiến máu thực hiện mỗi lần hiến với số lượng dưới 1/10 tổng lượng máu trong cơ thể thì không có hại đến sức khỏe. Các tài liệu và công trình nghiên cứu khoa học đều chứng minh rằng sau khi hiến máu, các chỉ số máu có thay đổi chút ít nhưng vẫn nằm trong giới hạn sinh lý bình thường và  không hề gây ảnh hưởng đến các hoạt động bình thường của cơ thể [9].

1.3.4.2. Cơ sở thực tế

Thực tế có hàng triệu người trên thế giới đã thực hiện hiến máu và hiến máu nhiều lần nhưng sức khỏe vẫn hoàn toàn tốt và khả năng lao động hoàn toàn bình thường. Trên thế giới, đã có những tấm gương người hiến máu rất nhiều lần (400 lần). Ở Việt Nam, theo số liệu “Báo cáo tổng kết của Ban chỉ đạo hiến máu tình nguyện quốc gia” và một số đề tài nghiên cứu trước đây, người hiến máu nhiều lần nhất đã hiến gần 100 lần, sức khỏe hoàn toàn tốt [2].
Như vậy, người có sức khoẻ tốt, không có các bệnh lây nhiễm qua đường  máu, đạt tiêu chuẩn, điều kiện hiến máu thì có thể thực hiện hiến máu nhân đạo và có thể hiến máu từ 3-4 lần trong một năm mà không có ảnh hưởng đến sức khoẻ. Thực hiện tốt việc hiến máu tự nguyện là hành vi tốt đẹp, nhân văn  không có ảnh hưởng sức khoẻ bản thân, nhưng đã thực hiện tốt hành động nhân đạo là bảo đảm cung cấp nguồn máu chất lượng tốt, an toàn để phục vụ cứu giúp người bệnh [9].

1.4. Trách nhiệm của người đăng ký hiến máu

+ Trả lời trung thực về tình trạng sức khoẻ và chịu trách nhiệm về nội dung trả lời của mình.
+ Ký xác kiến đã hiểu rõ các thông tin và tự nguyện hiến máu, sau khi được giải thích và điền vào bảng hỏi tình trạng sức khỏe người hiến máu theo quy định.
+ Không lợi dụng việc hiến máu để khám sức khỏe, xét nghiệm miễn phí.
+ Tự giác không hiến máu nếu xét thấy bản thân không đủ điều kiện hiến máu theo quy định. Không che giấu các nguy cơ mắc bệnh của bản thân khi đăng ký, tham gia hiến máu.
+  Sau khi hiến máu, cần báo ngay cho cơ sở tiếp kiến máu nếu tự phát hiện thấy bản thân có nguy cơ mắc bệnh viêm gan, nhiễm HIV và các bệnh lây truyền khác [11].

1.5. Các nghiên cứu đã được thực hiện

1.5.1. Các nghiên cứu trên thế giới

Nghiên cứu khảo sát về kiến thức thái độ thực tiễn và các yếu tố liên quan đến việc hiến máu tình nguyện của các sinh viên đại học ở Kilimanjaro, Tanzania của Elias cùng các đồng nghiệp. Khảo sát 422 người tham gia có độ tuổi trung bình là 24,2 thì thấy có 30% (126 người) đã từng hiến máu, trong 126 người này có 55% đã hiến máu từ 2 lần trở lên, 90,5% (114 người) hiến máu lí do tình nguyện và 1,6% hiến máu do muốn biết tình trạng sức khỏe. 96% sẵn sàng hiến máu trong tương lai. Trong 70% (296 người) chưa tham gia hiến máu thì 36% (152) vì thiếu kiến thức, và 13,2% (56) vì do sợ đau do kim chích [12].
Khảo sát kiến thức, thái độ và thực hành về hiến máu trong sinh viên ngành y  (CME) ở \tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc của Gao, Wang. Nghiên cứu được tiến hành trên 841 sinh viên ngành y, trong đó có 424 sinh viên đã hiến máu,  và 417 sinh viên chưa hiến máu cho thấy điểm số kiến thức trung bình của sinh viên hiến máu là 11,71 ± 2,22 và sinh viên chưa hiến máu là 8,46 ± 3,27. Điểm số thái độ trung bình của 2 nhóm sinh viên hiến máu và chưa hiến máu lần lượt là 9,19 ± 2,42 và  7,08 ± 2,02. Như vậy, điểm số kiến thức và thái độ trung bình của những người hiến tặng có ý nghĩa thống kê cao hơn so với những người không hiến. Trách nhiệm đạo đức của chủ nghĩa vị tha là lý do chính cho việc hiến máu , lo lắng về vệ sinh và mắc bệnh truyền nhiễm trong khi hiến tặng là lý do chính người không đi hiến máu [13].
Nghiên cứu mô tả cắt ngang 454 người hiến máu ở độ tuổi 18-65 ở miền bắc Tanzania, Mauka cùng các đồng nghiệp thu được tỉ lệ người tham gia hiến máu nhiều lần lặp lại chiếm 63,9% , người hiến máu chỉ một lần chiếm 36,1%. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiến máu lại của người hiến máu chủ yếu ở địa điểm hiến máu, kiến thức về khoảng thời gian giữa các lần hiến máu, và định kiến về lần hiến máu trước đó [14].

1.5.2. Các nghiên cứu đã thực hiện trong nước

Nghiên cứu mô tả cắt ngang, sử dụng bảng hỏi phát vấn với 323 lãnh đạo cộng đồng tại các cơ quan, đơn vị đã tổ chức hoặc có kế hoạch tổ chức hiến máu nhân đạo tại Hà nội, Vĩnh Phúc và Bắc Giang năm 2007, Ngô Mạnh Quân và cộng sự thu được kết quả: 37,25% lãnh đạo cộng đồng có kiến thức đầy đủ về hiến máu tình nguyện, 50,8% ở mức hạn chế và 12,1% có kiến thức kém. Trong đó nhóm lãnh đạo các đoàn thể có kiến thức tốt hơn nhóm lãnh đạo chính quyền, nhóm lãnh đạo khối trường học có kiến thức tốt hơn các nhóm khác. 99,4% lãnh đạo cộng đồng ủng hộ việc tổ chức hiến máu ngay tại cộng đồng của họ, hầu  hết việc hiến máu tại cộng đồng (98,8%) cho rằng tổ chức hiến máu tại cộng đồng góp phần giáo dục thành viên về tinh thần tương thân tương ái. Tại các đơn vị tổ chức hiến máu, 65,9% số lãnh đạo cộng đồng tham gia chỉ đạo việc tổ chức hiến máu, 70,3% trực tiếp động viên mọi người tham gia hiến máu, 64,1% trực tiếp tham dự ngày hiến máu và 38,1% số nhà quản lý đã trực tiếp tham gia hiến máu. Một số lý do cản trở các nhà lãnh đạo chưa ra quyết định tổ chức hiến máu là do: ngại ảnh hưởng đến sức khỏe của các thành viên (27,3%), do cộng đồng quá bận rộn (21,8%), sợ các thành viên không hưởng ứng (16,4%) và không có sự đề nghị tổ chức hiến máu (12,7%) [3].
Tại Hà Nội, Ngô Mạnh Quân nghiên cứu mô tả cắt ngang 342 người đến hiến máu tại viện Huyết Học truyền máu trung ương và các điểm hiến máu xe buýt của viện năm 2011 thấy 28,6% người hiến máu có kiến thức đầy đủ về thành phần máu và hiến máu thành phần, 74,55 người hiến máu sẵn sàng hiến máu thành phần, 39% người đã từng hiến thành phần máu, trong đó chủ yếu là sinh viên (54,8%). Những yếu tố liên quan tích cực tới kiến thức, thái độ và hành vi vè hiến thành phần máu là người hiến máu trên 25 tuổi và trình độ học vấn từ trung học cơ sở trở lên [4].
Năm 2007, Nguyễn Đức Thuận và cộng sự khảo sát kiến thức, thái độ và hành vi về hiến máu tình nguyện ở 1011 thanh niên của Hà Nội, Vĩnh Phúc và Bắc Giang thấy kiến thức về hiến máu tình nguyện của thanh niên còn chưa tốt, tỷ lệ người có kiến thức đầy đủ chỉ chiếm 22%, đa số là kiến thức hạn chế (48,4%) và vẫn còn 28,8% có kiến thức kém về hiến máu tình nguyện. Thanh niên Hà Nội có kiến thức tốt hơn thanh niên Bắc Giang và Vĩnh Phúc. Hầu hết thanh niên có kiến thức đúng đắn về hiến máu tình nguyện (78,4%). Chỉ có 17% có thái độ chưa đúng đắn và 4,6% có thái độ tiêu cực. Đa số (94,5%) ủng hộ người thân hiến máu và có tới 92,6% người có ý định hiến máu nhắc lại [7].
Nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Văn Nhữ, Ngô Mạnh Quân, Nguyễn Xuân Thái, Chử Nhất Hợp, Triệu Thị Biển, Phạm Tuấn Dương, Nguyễn Anh Trí năm 2011 mô tả cắt ngang 571 người hiến máu hoặc đăng ký hiến máu dự bị, với các kết quả thu được 34,9% kiến thức đầy đủ và 65,1% kiến thức chưa đầy đủ, có 95% người đã từng hiến máu ủng hộ người thân hiến máu, 21,7% số người đã từng hiến máu có bạn bè người thân đã từng hiến máu[10].
Năm 2012, Nguyễn Luân và cộng sự mổ tả cắt ngang 1505 sinh viên trong và ngoài quân đội, qua đó đưa ra thực trạng về nhận thức, thái độ và hành vi của sinh viên trong và ngoài quân đội về hiến máu tình nguyện với kết quả thu được tỷ lệ sinh viên nhận thức đầy đủ về HMTN còn thấp (43,2%), đa số nhận thức còn trung bình (51,0%) và nhận thức yếu (5,8%). Hầu hết sinh viên có thái độ đúng đắn về HMTN (73,4%), tuy nhiên vẫn còn 26,6% chưa có thái độ đúng đắn về  HMTN. Tỷ lệ  sinh viên có hành vi phù hợp về HMTN là 67,0%, và còn  tỷ lệ cao  (33,0% ) có hành vi không phù hợp [9].

 

Chương II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu

- Tiêu chuẩn lựa chọn: Các sinh viên hệ đào tạo chính quy người Việt Nam năm thứ nhất Trường đại học Y Dược Thái Bình được thông báo tham gia chương trình “Tọa đàm tìm hiểu về hiến máu tình nguyện” năm học 2017 - 2018 và tình nguyện tham gia nghiên cứu.
- Đối tượng sinh viên năm thứ nhất là những sinh viên mới bước vào môi trường Đại học, còn nhiều bỡ ngỡ với hoạt động đào tạo và môi trường sống mới, hầu như chưa có kiến thức, thái độ, kỹ năng về công tác HMTN như các khối sinh viên khác, do vậy, việc tìm hiểu ảnh hưởng của nội dung chương trình tọa đàm về HMTN đối với đối tượng này sẽ mang lại hiệu quả lớn hơn.  

2.1.2. Địa điểm nghiên cứu

Trường Đại học Y Dược Thái Bình
Trường Đại học Y Dược Thái Bình là đơn vị trực thuộc Bộ Y tế đóng trên địa bàn thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, là trường đào tạo chuyên ngành Y và Dược cho cả nước, đặc biệt là các tỉnh đồng bằng Bắc bộ. Trường có đội ngũ gần 600 cán bộ và nhân viên, với quy mô đào tạo gần 6,000 sinh viên.  Các hệ đào tạo tại trường bao trường gồm đào tạo đại học và sau đại học. Ở hệ đào tạo Đại học có các mã ngành học 6 năm như: Bác sĩ đa khoa, bác sĩ y học dự phòng, bác sĩ y học cổ truyền, mã ngành 5 năm như dược sĩ đại học, mã ngành 4 năm gồm: cử nhân điều dưỡng, cử nhân y tế công cộng. Ở mã ngành sau đại học có các mã ngành đào tạo chuyên khoa I các chuyên ngành lâm sàng, chuyên khoa cấp II Nội, Ngoại, Sản, Nhi, Quản lý y tế, Y tế công cộng, thạc sĩ, tiến sĩ Y tế công cộng.

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 4 năm 2018.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện theo hướng cắt ngang mô tả có so sánh.

2.2.2. Cỡ mẫu và chọn mẫu

a) Cỡ mẫu:  Công thức ước tính cỡ mẫu:
 
 
Trong đó:      n : Cỡ mẫu cần tính
Z21-a/2: là giá trị thu được từ bảng Z và bằng 1,96 với độ tin cậy 95%. Tức với mức ý nghĩa thống kê  α = 0,05
 p = 0,67 (nhóm nghiên cứu lấy từ kết quả của đề tài nghiên cứu trước) [9].
        e : Sai số cho phép ( +3% , +4% , +5%,…),ở nghiên cứu trên, nhóm nghiên cứu lựa chọn sai số e = 0,05
Thay vào công thức ta tính được : n= 175.
Vậy cỡ mẫu tối thiểu cần chọn là 175 . Trong đề tài này chúng tôi chọn 175 đối tượng sinh viên năm nhất tham gia Tọa đàm.
b) Chọn mẫu:
Nhóm nghiên cứu chọn mẫu theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, phát phiếu phỏng vấn đến các sinh viên nằm trong danh sách các lớp sinh viên được thông báo tham dự, loại bỏ những phiếu không đạt yêu cầu.

2.2.3. Quy trình thu thập số liệu

Nhằm khảo sát thực trạng của sinh viên trước và sau tọa đàm về hiến máu tình nguyện, chúng tôi tiến hành sử dụng phương pháp thu thập thông tin bằng phiếu câu hỏi, đây là phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong đề tài nhằm thu thập những thông tin về thực trạng kiến thức, thái độ và hành vi của sinh viên về hiến máu tình nguyện.
Các bước tiến hành:
        Bước 1: Xây dựng mẫu phiếu câu hỏi (bảng hỏi)
        Dựa trên lý thuyết về xây dựng mẫu phiếu điều tra và cơ sở lý luận của đề tài, nhóm nghiên cứu xây dựng bảng hỏi kèm theo các đáp án trả lời theo nguyên tắc rõ ràng, dễ hiểu. Nội dung câu hỏi bao quát được nội dung theo cấu trúc nghiên cứu, nhóm nghiên cứu thiết kế câu hỏi nhằm đánh giá được sự thay đổi kiến thức, thái độ và hành vi của đối tượng nghiên cứu về hiến máu tình nguyện trước và sau tọa đàm cùng một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ và hành vi của sinh viên về hiến máu tình nguyện.
        Câu hỏi về kiến thức gồm 12 câu hỏi : 3 - 13
        Câu hỏi về thái độ gồm 4 câu hỏi: 14, 15, 23, 24
        Câu hỏi về hành vi gồm 5 câu hỏi: 16 - 22
        Câu hỏi về cách tiếp cận thông tin của đối tượng: 1, 2.
        Bước 2: Phát phiếu điều tra
        Nhóm nghiên cứu phát phiếu điều tra 2 lần, những thành viên thuộc nhóm nghiên cứu chỉ hướng dẫn cách điền thông tin phiếu, không hướng dẫn gì thêm:
        Lần 1: Phát phiếu ra và thu lại ngay trước khi chương trình Tọa đàm hiến máu bắt đầu.
        Lần 2: Dựa vào thông tin đã có từ phiếu điều tra lần 1, phát phiếu điều tra lần 2 đến các đối tượng sau chương trình Chủ Nhật đỏ.

2.3. Các chỉ số, biến số và tiêu chuẩn đánh giá trong nghiên cứu

2.3.1. Các chỉ số trong nghiên cứu

- Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu: tuổi, giới, khu vực sinh sống
- Tỷ lệ kiến thức đầy đủ hoặc không đầy đủ về hiến máu tình nguyện (dựa trên các câu hỏi về kiến thức hiến máu: các thành phần máu, tiêu chuẩn hiến máu, qui trình hiến máu, lợi ích của hiến máu tới sức khỏe, và chia thành mức độ kiến thức đầy đủ và không đầy đủ) trước và sau tọa đàm
- Thái độ của đối tượng về hiến máu nhân đạo trước và sau tọa đàm
- Hành vi của đối tượng về hiến máu nhân đạo trước và sau tọa đàm
- Mối liên quan giữa tuổi, giới, dân tộc, mức độ hiểu biết về hiến máu với kiến thức, hành vi, thái độ hiến máu nhân đạo

2.3.2. Một số tiêu chuẩn

Cách đánh giá mức độ kiến thức, thái độ và hành vi của chúng tôi dựa vào kết quả các đáp án trả lời của đối tượng nghiên cứu thông qua các câu hỏi trong mẫu phiếu khảo sát, cụ thể như sau:
  1. Đánh giá về mức độ kiến thức:
Dựa theo bảng kiểm đánh giá về nhận thức về hiến máu tình nguyện do Nguyễn Luân đưa ra ở đề tài nghiên cứu “Khảo sát nhận thức, thái độ và hành vi về hiến máu tình nguyện của sinh viên trong và ngoài quân đội năm 2012-2013”
        Các câu hỏi về kiến thức nếu trả lời đúng được 1 điểm. như vậy tối đa được 11 điểm. cách xếp loại như sau:
        Tổng điểm từ 9-11; kiến thức tốt
        Tổng 5-8: kiến thức trung bình
        Tổng dưới 5: kiến thức hạn chế
        +) Mẫu bảng kiểm nhóm nghiên cứu đưa ra như sau:
  Tốt (9-11đ) Trung bình(5-8đ) Hạn chế(<5đ)
  N % n % n %
SVTTĐ            
SVSTĐ            
Tổng            
  1. Đánh giá về về thái độ:
  + Nếu đối tượng sẵn sàng tự nguyện hiến máu (hoặc có ý định hiến máu tiếp ở người đã hiến máu) và trả lời đúng các câu còn lại, thực hiện đúng theo chỉ dẫn của bác sĩ sau hiến máu thì được đánh giá là có thái độ đúng đắn.
  + Nếu đối tượng không sẵn sàng tự nguyện hiến máu (hoặc không có ý định hiến máu nhắc lại) hoặc trả lời sai các câu còn lại thì được đánh giá là thái độ chưa đúng đắn.
c. Đánh giá về hành vi:
  + Trả lời đáp án 1 tất cả các câu hỏi lựa chọn thì đối tượng được đánh giá là có hành vi phù hợp.
  + Trả lời đáp án 2 một trong các câu hỏi lựa chọn thì đối tượng được đánh giá là hành vi chưa phù hợp.

2.4. Xử lý số liệu

          Nhóm nghiên cứu thống kê và xử lý số liệu bằng phần mềm Epidata 3.1 và SPSS 16.0.

2.5. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu.

Nghiên cứu được sự cho phép của Ban Giám hiệu, Hội đồng khoa học Trường, Phòng QLKH trường ĐH Y Dược Thái Bình, Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên - Hội Sinh viên trường Đại học Y Dược Thái Bình và BCN CLB Sinh viên vận động hiến máu tình nguyện trường Đại học Y Dược Thái Bình.
Tất cả việc thu thập thông tin, phỏng vấn các sinh viên đều được sự đồng ý của các sinh viên tham gia nghiên cứu và được giữ bí mật.

2.6. Hạn chế sai số

- Khắc phục sai số trong quá trình chọn mẫu:
+ Kỹ thuật ngẫu nhiên hóa các đối tượng đưa vào nghiên cứu
+ Chọn cỡ mẫu đủ lớn đại diện cho quần thể nghiên cứu
- Khắc phục sai số trong quá trình thu thập số liệu:
+ Các điều tra viên được tập huấn kĩ trước khi điều tra về nội dung, ý nghĩa đề tài, cách thu thập thông tin.
+ Bộ phiếu điều tra được điều tra thử, chỉnh sửa phù hợp và hoàn thiện trước khi đưa vào điều tra chính thức.
- Khắc phục sai số trong quá trình xử lý số liệu:
+ Trước khi nhập số liệu phải xem lại toàn bộ phiếu đã thu thập được để chỉnh sửa các lỗi do không điền đầy đủ thông tin, thiếu phiếu, trùng lặp,…
+ Mã hóa phiếu với thiết lập ràng buộc chắc chắn. Cẩn thận khi nhập số liệu và phân tích số liệu
 
 
 
 

Chương III. KẾT QUẢ

3.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1. Đặc điểm về tuổi của đối tượng nghiên cứu

  X +- SD Min Max
Độ tuổi 18.43 ± 0.69 18 22
 
          Nhận xét: Đối tượng nghiên cứu được lựa chọn là những sinh viên năm thứ Nhất học tập tại trường Đại học Y Dược Thái Bình tham gia chương trình Tọa đàm về HMTN năm 2018, đối tượng nghiên cứu có tuổi trung bình là 18.43 ± 0.69, nhỏ nhất là 18 và lớn nhất là 22 tuổi.
 
 
                          

Biểu đồ 3.1: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới tính

          Nhận xét: Biểu đồ 3.1 cho thấy trong số 175 đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu có tỷ lệ nữ sinh viên chiếm 58,3% cao hơn nam với 41,7%. Tỷ lệ giới tính Nữ : Nam là 2,4:1.
 
          

Biểu đồ 3.2: Phân bố đối tượng tham gia nghiên cứu theo dân tộc

Nhận xét: Biểu đồ 3.2 cho thấy trong 175 đối tượng tham gia nghiên cứu, có 155 đối tượng là người dân tộc Kinh chiếm 88,6% và 20 đối tượng (11,4%) là người dân tộc khác như Thái, Mường, ....

3.2. Đánh giá về kiến thức của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.2.  Kiến thức về HMTN của đối tượng trước và sau tọa đàm

Đối tượng
Kiến thức
SVTTĐ SVSTĐ P
N % N %
Tốt (9-11đ) 6 3.43 16 9.14 0.03
Trung bình (5-8đ) 132 75.43 137 78.29 0.53
Hạn chế (<5đ) 37 21.14 22 12.57 0.03
Tổng 175 100 175 100  
          Nhận xét: Theo kết quả nghiên cứu, tỷ lệ đối tượng có kiến thức tốt, trung bình và hạn chế trước tọa đàm lần lượt chiếm 3,43%; 75,43% và 21,14%. Tỷ lệ này ở sinh viên sau tọa đàm lần lượt là 9,14%; 78,29% và 12,57%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở đối tượng có kiến thức tốt và hạn chế với p < 0,05.
 
 
 

Biểu đồ 3.3: Nguồn tiếp cận thông tin vê HMTN của đối tượng trước khi tham gia tọa đàm (n=175)

Nhận xét: Biểu đồ 3.3 cho thấy, tại thời điểm trước khi tham gia tọa đàm hiến máu, tỷ lệ đối tượng tìm hiểu thông tin về hiến máu tình nguyện gián tiếp qua các kênh thông tin đại chúng như ti vi, đài báo, Internet chiếm đa số (lần lượt chiếm73,1% và 66,3%). Việc tìm hiểu thông tin của sinh viên qua các chương trình do Đoàn trường tổ chức trước Tọa đàm hiến máu chiếm tỷ lệ 26,8%. Ngoài ra, tỷ lệ biết thông tin về HMTN qua sự giới thiệu qua bạn bè, qua nhân viên y tế và qua tờ rơi, áp phích lần lượt là 46,3%; 36%; 28%.
 
 


3.3. Đánh giá về thái độ của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.3. Thái độ của đối tượng về hiến máu tình nguyện

         Thái
            độ
Đối
tượng
Đúng đắn Chưa đúng đắn Tổng
n % n % n %
SVTTĐ 125 71.4 50 28.6 175 100
SVSTĐ 129 73.7 46 26.3 175 100
p 0,63 0,63  
Nhận xét: Theo kết quả nghiên cứu, số đối tượng nghiên cứu có thái độ đúng đắn về hiến máu tình nguyện trước và sau tọa đàm hiến máu lần lượt là 125 và 129, chiếm tỷ lệ 71,4% và 73,7%. Không có sự khác biệt về thái độ của sinh viên về hiến máu tình nguyện trước và sau tọa đàm hiến máu (p > 0,05).
   

Biểu đồ 3.4: Mục đích của HMTN theo đối tượng nghiên cứu (nghiên cứu ở đối tượng trước tọa đàm) (n=175)

         Nhận xét: Theo biểu đồ 3.4, trong 175 đối tượng tham gia nghiên cứu có 157 sinh viên cho rằng hiến máu tình nguyện là để cứu người (chiếm 89,7%), có lần lượt 68% (119) và 55,6% (99) đối tượng hiến máu để kiểm tra sức khỏe bản thân hoặc nhận được máu khi bản thân cần. Những lý do nhận quà, giấy chứng nhận hoặc bạn bè rủ tham gia hoặc để tăng, giảm cân chiếm tỷ lệ thấp hơn lần lượt là 29,1 ; 29,1 và 22,8 %.
    

Biểu đồ 3.5: Lý do chưa tham gia HMTN ở các đối tượng nghiên cứu trước tọa đàm (n=147)

Nhận xét: Trong số 147 sinh viên chưa tham gia HMTN trước tọa đàm, có 72 đối tượng (chiếm 49%) cho rằng việc sinh viên nhà trường không tham gia hiến máu là do chưa có dịp tiếp cận với đoàn hiến máu. Đối tượng không tham gia hiến máu do chưa đảm bảo sức khỏe, do gia đình phản đối, hoặc chưa đủ tuổi khi có đợt hiến máu chiếm tỷ lệ lần lượt 19,7%; 13,6%; 9,5%. Các đối tượng có lý do sợ đau, sợ máu, sợ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe chiếm tỷ lệ thấp hơn: 16,3% và 8,2%.

3.4. Đánh giá về hành vi của đối tượng nghiên cứu trước và sau tọa đàm

Bảng 3.4: Hành vi của sinh viên năm nhất về hiến máu tình nguyện.

     Hành
vi
 
Đối
tượng
Phù hợp Chưa phù hợp Tổng
n % n %
SVTTĐ 23 13,1 152 86,9 175
SVSTĐ 40 22,9 135 77,1 175
p 0,02 0,02  
          Nhận xét: Bảng 3.4 cho thấy, đối tượng nghiên cứu có hành vi phù hợp với hiến máu tình nguyện trước và sau tọa đàm lần lượt là 13,1% và 22,9%. Có sự khác biệt về hành vi của đối tượng nghiên cứu trước và sau tọa đàm hiến máu với p = 0,02 < 0,05.

3.5. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến hoạt động hiến máu tình nguyện

(đánh giá ở các đối tượng sau khi tham gia Tọa đàm hiến máu)

Bảng 3.5: Sự liên quan giữa sinh viên nam và nữ với thái độ về hiến máu

           
  Giới
                
 
 
Thái độ
Nam Nữ Tổng P
n % n % n %
Đúng đắn 53 72.6 76 74.5 129 73.7 0.78
OR=0.907
Chưa đúng đắn 20 27.4 26 25.5 46 26.3
Tổng 73 100 102 100 175 100
 
 
Nhận xét: Theo kết quả nghiên cứu; trong 73 sinh viên nam có 72,6% (53 sinh viên) có thái độ đúng đắn với hiến máu tình nguyện. Còn 102 sinh viên nữ có 73,7% sinh viên có thái độ đúng đắn. Sự khác biệt trên không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05 và OR = 0,907.
         
 

Bảng 3.6. Sự liên quan giữa sinh viên nam và nữ với thái độ ủng hộ người thân hiến máu

                 
Giới
 
 
 
 
Thái độ
Nam Nữ Tổng P
n % n %  
n
%
Ủng hộ 71 97.3 101 99.0 172 98.3 0.377
OR= 0.351
Không ủng hộ 2 2.7 1 1.0 3 1.7
Tổng 73 100 102 100 175 100
 
        Nhận xét: Theo bảng 3.6, trong 73 đối tượng nam tỷ lệ ủng hộ người thân hiến máu và không ủng hộ lần lượt là 97,3% và 2,7%. Trong khi đó, 102 đối tượng nữ tỷ lệ này là 99% ủng hộ và 1% không ủng hộ. Sự khác biệt về tỷ lệ này giữa 2 giới không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05 và OR = 0,351.

Bảng 3.7: Sự liên quan giữa sinh viên nam và nữ với hành vi hiến máu (n=175)

                   Giới
Hành
Vi
Nam Nữ Tổng P
n % n % n %
Phù hợp 12 16.4 28 27.5 40 22.9 0.087
Chưa phù hợp 61 83.6 74 72.5 135 77.1
Tổng 73 100 102 100 175 100  
 
Nhận xét: Nghiên cứu 175 đối tượng sau tọa đàm, trong số 73 đối tượng là nam, có 12 đối tượng có hành vi phù hợp chiếm tỷ lệ 16,4%; có 28 đối tượng trên tổng số 102 đối tượng là nữ có hành vi phù hợp chiếm tỷ lệ 22,9%. Sự khác biệt về tỷ lệ này ở 2 giới nam và nữ không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
 

Bảng 3.8: Sự liên quan giữa thái độ và hành vi hiến máu ở đối tượng nghiên cứu (n=175)

 
Thái độ
 
Hành vi
Đúng đắn Chưa đúng đắn Tổng P
N % n % n %
Phù hợp 35 27,1 5 10,9 40 22,9 0,024
Chưa phù hợp 94 72,9 41 89,1 135 77,1
Tổng 129 100 46 100 175 100  
 
        Nhận xét: Theo kết quả nghiên cứu, trong số 129 sinh viên có thái độ đúng đắn với HMTN, tỷ lệ sinh viên có hành vi phù hợp chiếm 27,1%; tỷ lệ này ở 46 sinh viên chưa có thái độ đúng đắn với HMTN là 10,9%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

Bảng 3.9: Mối liên quan giữa kiến thức và thái độ về hiến máu của đối tượng nghiên cứu (n=175)

              Thái độ
 
Kiến thức
Đúng đắn Chưa đúng đắn Tổng P
N % n % n %
Kiến thức tốt 13 10.1 3 6.5 16 9.1 0.024
Kiến thức TB 105 81.4 32 69.6 137 78.3
Kiến thức hạn chế 11 8.5 11 23.9 22 12.6
Tổng 129 100 46 100 175 100  
        Nhận xét: Theo kết quả nghiên cứu, trong số 129 sinh viên có thái độ đúng đắn với HMTN có kiến thức tốt, trung bình và hạn chế lần lượt là 13 (10,1%), 105 (81,4%) và 11 sinh viên ( 8,5%). Con số này đối với 46 sinh viên có thái độ chưa đúng đắn với HMTN lần lượt là 3;32 và 11 sinh viên chiếm 9,1;78,3 và 12,6%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

Bảng 3.10: Mối liên quan giữa kiến thức và hành vi ở đối tượng nghiên cứu (n=175)

          Hành vi
Kiến thức
Phù hợp Chưa phù hợp Tổng p
n % n % n %
Kiến thức tốt 9 22.5 7 5.2 16 9.1 0.001
Kiến thức TB 24 60.0 113 83.7 137 78.3
Kiến thức hạn chế 7 17.5 15 11.1 22 12.6
Tổng 40 100 135 100 175 100  
        Nhận xét: Theo kết quả nghiên cứu, trong số 40 sinh viên có hành vi phù hợp về HMTN có kiến thức tốt, trung bình và hạn chế lần lượt là 9 (22.5%), 24 (60,0%) và 7 sinh viên (17,5%). Con số này đối với 135 sinh viên hành vi chưa phù hợp về HMTN lần lượt là 7;113 và 15 sinh viên chiếm 5,2;83,7 và 11,1%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05).

 

CHƯƠNG IV. BÀN LUẬN

4.1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

4.1.1. Tuổi

        Đối tượng nghiên cứu là sinh viên dài hạn năm thứ Nhất - K47 đang học tập tại trường Đại học Y Dược Thái Bình có tham gia Tọa đàm tìm hiểu về HMTN năm 2018, với độ tuổi trung bình là 18.43 ± 0.698, đa số sinh viên mới bước sang tuổi 18 - độ tuổi cho phép để tham gia HMTN. Các sinh viên năm thứ Nhất mới xa gia đình để tiếp cận với việc học tập và hoạt động tại một môi trường mới, trong đó đa số sinh viên lần đầu được tiếp cận với phong trào HMTN.

4.1.2. Giới tính

        Biểu đồ 3.1.1 cho thấy trong số 175 các đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu có tỷ lệ nữ sinh viên chiếm 58,3% cao hơn nam với 41,7%. Tỷ lệ giới tính Nữ : Nam là 2,4:1. Trong số đối tượng tham gia nghiên cứu, số lượng sinh viên nữ chiếm ưu thế so với sinh viên nam.

4.1.3. Dân tộc

Biểu đồ 3.1.2 cho thấy trong 175 đối tượng tham gia nghiên cứu, có 155 đối tượng là người dân tộc Kinh chiếm 88,6% và 20 đối tượng (11,4%) là người dân tộc khác. Số lượng sinh viên là người Kinh tham gia tọa đàm chiếm đa số so với sinh viên thuộc dân tộc thiểu số.

4.2. Nhận xét về kiến thức của đối tượng nghiên cứu

Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa số sinh viên có kiến thức tốt và hạn chế trước và sau tọa đàm (từ 3,43% lên 9,14%); cho thấy chương trình đã có tác động tới kiến thức của sinh viên về HMTN. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cho thấy đa số đối tượng nghiên cứu có hiểu biết ở mức trung bình về HTMN (78,3% đối với sinh viên sau tọa đàm). Tỷ lệ sinh viên có kiến thức tốt và trung bình của sinh viên sau tọa đàm là 87,44%; thấp hơn nghiên cứu của Nguyễn Luân năm 2012 với 1505 sinh viên Học viện Quân y với tổng tỷ lệ sinh viên có nhận thức đầy đủ và trung bình là 94,2% và cao hơn tỷ lệ này ở nghiên cứu cộng đồng của Ngô Mạnh Quân năm 2011 (34,9%). Tỷ lệ sinh viên có kiến thức trung bình đến tốt là khá cao, điều này được giải thích do đặc thù sinh viên ngành Y trong môi trường trí thức cao có điều kiện được học hỏi và có trách nhiệm hơn với việc tiếp thu kiến thức đối với HMTN so với cộng đồng, bên cạnh đó các sinh viên ngành Y cũng có nhiều cơ hội tiếp xúc với thông tin liên quan đến HMTN hơn so với những đối tượng khác.
Ở biểu đồ 3.2.1 cho thấy sinh viên trước khi tham gia Tọa đàm chủ yếu tiếp cận với thông tin về HMTN từ nguồn thông tin gián tiếp (Tivi, đài báo, internet…), phương pháp truyền thông này có sự lan tỏa tốt nhưng thông tin được truyền tải không được đầy đủ so với các phương pháp truyền thông trực tiếp như qua tuyên truyền của nhân viên y tế hay các chương trình tập huấn khác. Với tỷ lệ sinh viên có kiến thức trung bình hoặc tốt tăng lên sau tọa đàm hiến máu (là một chương trình truyền thông trực tiếp về hiến máu do CLB Sinh viên vận động hiến máu tình nguyện, Đoàn Thanh niên trường phối hợp tổ chức) cho thấy việc tăng cường tổ chức những chương trình tương tự để cải thiện kiến thức cho sinh viên về hiến máu tình nguyện nói chung là rất cần thiết. Do hình thức tuyên truyền gián tiếp qua các phương tiện thông tin đại chúng dù đạt sự lan tỏa cao nhưng không cung cấp đầy đủ được những kiến thức thực sự cần thiết cho người hiến máu, việc thiếu kiến thức về HMTN có thể mang tới sự bất lợi do chất lượng máu hiến có khả năng bị suy giảm khi người không đủ điều kiện hiến máu vẫn tham gia hiến máu. Trên thực tế việc kết hợp được những phương pháp truyền thông trực tiếp và gián tiếp sẽ đem lại hiệu quả cao hơn cho công tác hiến máu của Đoàn Thanh niên trường nói chung và CLB Sinh viên vận động hiến máu tình nguyện nói riêng, tuy nhiên hiện tại việc tổ chức các chương trình tuyên truyền và tập huấn trực tiếp dù đạt chất lượng nội dung chuyên môn cao nhưng vẫn chưa được tổ chức thường xuyên và liên tục, quy mô mỗi chương trình còn ở mức thấp (Tọa đàm hiến máu là chương trình tuyên truyền kiến thức về HMTN lớn nhất trong năm học 2017 - 2018 chỉ thu hút khoảng trên dưới 200 sinh viên tới tham gia), điều này khiến cho việc lan tỏa những thông tin cần thiết về HMTN gặp nhiều trở ngại.

4.3. Nhận xét về thái độ của đối tượng nghiên cứu

Không có sự khác biệt về thái độ của sinh viên đối với HMTN trước và sau tọa đàm, tỷ lệ sinh viên năm nhất có thái độ đúng đắn về HMTN là 73,7% đối với đối tượng sau tọa đàm. Tỷ lệ này tương đương với nghiên cứu của Nguyễn Luân tại Học viện Quân Y với 73,4% [9] và nghiên cứu của Nguyễn Đức Thuận năm 2007 [7]. Cho thấy đa số các sinh viên đều ủng hộ việc hiến máu và việc vận động những người xung quanh tham gia hiến máu, do sinh viên là đối tượng trí thức trẻ nên có góc nhìn thiện cảm đối với những chương trình, hoạt động về tình nguyện như hiến máu nhân đạo, điều này cũng được thể hiện ở nghiên cứu của Ngô Mạnh Quân năm 2011 với tỷ lệ đối tượng sẵn sàng hiến máu và đã hiến máu chủ yếu là sinh viên với 54,8% [4]. Bên cạnh đó, vẫn có một bộ phận không nhỏ sinh viên vẫn còn có thái độ chưa đúng đắn về HMTN (26,3%), điều này có thể xuất phát từ tâm lý sợ hiến máu, có định kiến không tốt về hoạt động hiến máu hoặc một số nguyên nhân khác.
Bên cạnh đó, việc tham gia hiến máu để cứu người là lý do chính cho việc hiến máu (89,7%), những lý do khác như để kiểm tra sức khỏe, để kiếm tiền và quà có tỷ lệ thấp hơn, đây là kết quả phản ánh đúng thực trạng về công tác hiến máu tình nguyện và cũng tương đương với kết luận đến từ các nghiên cứu khác về HMTN như nghiên cứu của Gao Wang năm 2017 tại Tứ Xuyên, Trung Quốc [13]. Điều này được giải thích do sinh viên năm thứ Nhất đã ý thức được vai trò của một sinh viên đang theo học tại một ngôi trường đào tạo về Y Dược trong công tác HMTN, tuy vậy vẫn có một bộ phận sinh viên cho rằng việc hiến máu là để phục vụ cho những nhu cầu cá nhân khác (10,3%).

4.4. Nhận xét về hành vi của đối tượng nghiên cứu

Tại bảng 3.4.1 cho thấy hành vi của đối tượng đã có sự thay đổi sau chương trình Tọa đàm hiến máu với tỷ lệ sinh viên có hành vi phù hợp với công tác HMTN tăng từ 13,1% lên 22,9%, sự thay đổi này cho thấy chương trình tọa đàm đã có sự tác động đến hành vi của đối tượng tham gia. Tuy nhiên tỷ lệ đối tượng có hành vi phù hợp với HMTN còn thấp hơn rất nhiều so với con số 67% ở nghiên cứu tại Học viện Quân Y năm 2012. Điều này được giải thích do nghiên cứu được thực hiện trên các đối tượng là sinh viên học năm thứ Nhất, là đối tượng mới rời xa gia đình để nhập học chưa lâu, còn chưa quen với việc sắp xếp cuộc sống và còn giữ tâm lý sợ hãi khi quyết định trực tiếp tham gia hiến máu, hoặc còn ngại ngùng khi được hỏi về việc có muốn tham gia công tác tuyên truyền về HMTN hay không. Bên cạnh đó, đối tượng nghiên cứu đa số mới bước sang tuổi 18, độ tuổi vừa đủ để tham gia hiến máu, và sau chương trình tọa đàm Đoàn Thanh niên trường chỉ tổ chức một chương trình hiến máu tập trung là Chương trình Chủ nhật đỏ năm 2018, do vậy tỷ lệ sinh viên đạt điểm hành vi phù hợp (trong đó bao gồm việc đã hiến máu) đối với đối tượng tham gia nghiên cứu không cao so với những nghiên cứu khác, do những nghiên cứu này thực hiện trên những đối tượng có độ tuổi lớn hơn khá nhiều và đã có nhiều cơ hội tiếp cận hơn với các đoàn hiến máu.

4.5. Các yếu tố liên quan đến HMTN

4.5.1. Mối liên quan giữa thái độ và hành vi về HMTN ở đối tượng NC.

Kết quả nghiên cứu ở bảng 3.5.4 cho thấy trong số 129 sinh viên có thái độ đúng đắn với HTMN, có 27,1% sinh viên có hành vi phù hợp với HMTN; tỷ lệ này đối với 46 sinh viên có thái độ chưa đúng đắn với HTMN chỉ là 10,9%. Sự khác biệt là có ý nghĩa thống kê với p = 0,024 < 0,05; cho thấy để xây dựng được hành vi phù hợp với việc HMTN ở sinh viên thì việc cải thiện thái độ có ý nghĩa quan trọng.      Đây là một nội dung quan trọng, tuy nhiên theo kết quả nghiên cứu thì chương trình tọa đàm hầu như không tác động đối với thái độ của sinh viên về HMTN, do vậy việc cải thiện thái độ cần được thực hiện qua những phương pháp tổ chức chương trình tuyên truyền và tập huấn khác nhau mang tính thực tiễn và có độ tập trung cao hơn. Cùng với đó, với việc là một sinh viên ngành Y, việc học tập và hoạt động trong môi trường lành mạnh cũng có thể mang tới thái độ tích cực hơn cho đối tượng đối với công tác hiến máu tình nguyện.

4.5.2. Mối liên quan giữa kiến thức và thái độ đối với HMTN ở đối tượng NC.

Bảng 3.5.5 cho thấy trong số 129 sinh viên có thái độ đúng đắn về HMTN thì tỷ lệ sinh viên có kiến thức tốt và trung bình : sinh viên có kiến thức hạn chế là 91,5% : 8,5%; tỷ lệ này cao hơn đáng kể so với 46 sinh viên có thái độ đúng đắn về HMTN (76,1% : 23,9%); kết quả này cho thấy khi có sự hiểu biết về HMTN thì các sinh viên sẽ có góc nhìn đúng đắn hơn với việc hiến máu của mình, cho thấy tầm quan trọng của việc không ngừng bổ sung kiến thức chung về hiến máu cho sinh viên.

4.5.3. Mối liên quan giữa kiến thức và hành vi ở đối tượng nghiên cứu.

Ở bảng 3.5.6 cho thấy trong số 40 sinh viên có hành vi phù hợp đối với HMTN có tỷ lệ kiến thức tốt và trung bình : sinh viên có kiến thức hạn chế là 82,5% : 17,5%; tỷ lệ này ở 135 sinh viên có hành vi chưa phù hợp với công tác HMTN với tỷ lệ 88,9% : 11,1%. Tỷ lệ này cho thấy sau tọa đàm, kiến thức không phải yếu tố quyết định hoàn toàn về hành vi đối với HMTN khi tỷ lệ sinh viên có kiến thức trung bình trở lên ở nhóm đối tượng hành vi chưa phù hợp vẫn ở mức rất cao (88,9%), điều này được giải thích đa số sinh viên năm thứ Nhất còn gặp trở ngại trong việc thực hiện những hành động thể hiện trách nhiệm của bản thân trong việc hiến máu tình nguyện như trực tiếp tham gia hiến máu, hoặc đồng ý trở thành người tuyên truyền cho công tác hiến máu tình nguyện cho gia đình và những người xung quanh, đây không phải là vấn đề mà việc có kiến thức chuyên môn đơn thuần về hiến máu có thể giải quyết được mà cần sự động viên, hỗ trợ và quan tâm phát triển các sinh viên hơn nữa từ các tổ chức quản lý như Đoàn Thanh niên trường, Ban Chấp hành các chi đoàn chi hội và từ CLB Sinh viên vận động hiến máu tình nguyện trong việc tổ chức truyền thông, tổ chức các chương trình nhắm tới những đối tượng sinh viên năm thứ Nhất để các bạn mạnh dạn hơn, hiểu hơn về trách nhiệm tuyên truyền về hiến máu với vai trò là sinh viên trường đang học tập một trường Đại học hàng đầu đào tạo về Y Dược. Bên cạnh đó, việc quan tâm, tổ chức các hoạt động nhằm bổ sung những kỹ năng về tuyên truyền, tạo môi trường để sinh viên hòa nhập hơn với công tác vận động hiến máu cũng là một hành động cần được ưu tiên trong thời gian tới.
 
 
 

 

CHƯƠNG V. KẾT LUẬN

          Qua nghiên cứu kiến thức, thái độ và hành vi của 175 đối tượng là sinh viên năm thứ Nhất trường ĐH Y Dược Thái Bình trước và sau Tọa đàm hiến máu 2018, nhóm nghiên cứu đưa ra một số kết luận sau:

5.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

          - Độ tuổi trung bình của đối tượng tham gia nghiên cứu là 18.43 ± 0.698.
          - Tỷ lệ sinh viên nữ là 58,3%, tỷ lệ sinh viên nữ là 41,7%, tỷ lệ nữ/nam là 2,4:1.
          - Tỷ lệ sinh viên dân tộc Kinh chiếm 88,6%, dân tộc khác chiếm 11,4%.

5.2. Nhận xét kiến thức, thái độ, hành vi của đối tượng nghiên cứu

          - Tỷ lệ đối tượng có kiến thức tốt, trung bình, hạn chế ở sinh viên trước tọa đàm là 3,43%; 75,43% và 21,14%; sau tọa đàm là 9,14%, 78,29% và 12,57%; sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
          - Sinh viên tiếp nhận thông tin về HMTN chủ yếu qua Tivi, đài báo, Internet với tỷ lệ lần lượt là 73,1% và 66,3%.
          - Tỷ lệ sinh viên có thái độ đúng đắn về HMTN trước tọa đàm là 71,4%,  sau tọa đàm là 73,7%, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê.
          - Sinh viên tham gia HMTN chủ yếu là để cứu người : 89,7%.
          - Tỷ lệ sinh viên có hành vi phù hợp với HMTN trước và sau tọa đàm lần lượt là 13,1% và 22,9%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Tỷ lệ sinh viên có hành vi phù hợp còn thấp.

5.3. Nhận xét một số liên quan đến việc HMTN

        - Trong số các đối tượng có thái độ đúng đắn với HMTN, tỷ lệ sinh viên có hành vi phù hợp chiếm 27,1%; tỷ lệ này ở đối tượng chưa có thái độ đúng đắn với HMTN là 10,9%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
        - Trong số các đối tượng có thái độ đúng đắn với HMTN, tỷ lệ có kiến thức tốt, trung bình và hạn chế lần lượt là 10,1%, 81,4% và 8,5%. Tỷ lệ này đối với các đối tượng có thái độ chưa đúng đắn với HMTN lần lượt là 9,1%;78,3% và 12,6%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
        - Trong số 40 sinh viên có hành vi phù hợp về HMTN có kiến thức tốt, trung bình và hạn chế lần lượt là 22.5%, 60,0% và 17,5%. Đối với 135 sinh viên hành vi chưa phù hợp về HMTN lần lượt là 5,2%, 83,7% và 11,1%.
 

 

CHƯƠNG VI. KIẾN NGHỊ

          Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị như sau:
          1. Đoàn Thanh niên trường cần nâng cao số lượng và chất lượng các hoạt động truyền thông trực tiếp về HMTN, chú trọng tới nhóm sinh viên năm thứ Nhất, tạo điều kiện để nhóm đối tượng trên hòa nhập với phong trào HMTN nhà trường để góp sức mình trong việc tuyên truyền về hiến máu.
          2. Những hoạt động tuyên truyền về HMTN cần được đổi mới hơn, bên cạnh việc cung cấp kiến thức, cần chú trọng hơn tới mục tiêu cải thiện thái độ và hành vi của đối tượng sinh viên năm thứ Nhất đối với HMTN.
3. Cần có khảo sát tiếp theo về việc thái độ của sinh viên với thực hành của sinh viên trong hiến máu tình nguyện

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Hoàng Thị Như Minh, Nguyễn Duy Thăng (2011):  “Kiến thức, thái độ, hành vi và những yếu tố liên quan đến hiến máu của người hiến máu tình nguyện tại tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2011”,Tạp chí Y học Việt Nam, tập 396, tr. 503.
  2. Hội nghị toàn quốc triển khai công tác vận động hiến máu tình nguyện năm 2019 - Ban Chỉ đạo quốc gia Vận động hiến máu tình nguyện, tháng 3/2019
  3. Ngô Mạnh Quân và cộng sự (2007), “Tìm hiểu nhận thức, quan điểm và hành vi về hiến máu tình nguyện của lãnh đạo cộng đồng tại Hà Nội, Bắc Giang và Vĩnh Phúc năm 2007“, Tạp chí y học Việt Nam, tr. 661-670.
  4. Ngô Mạnh Quân và cộng sự (2011), “Thực trạng nhận thức, thái độ và hành vi của người hiến máu về hiến máu và thành phần máu tại Hà Nội năm 2011“, Tạp chí y học Việt Nam, số 396-2012, tr. 330-335.
  5. Ngô Mạnh Quân, Nguyễn Duy Ngọc, Triệu Thị Biển, Nguyễn Anh Trí (2011): “ Thực trạng nhận thức, thái độ và hành vi của người hiến máu về hiến thành phần máu tại hà nội năm 2011. Tạp chí Y học Việt Nam, số đặc biệt/2012-tập 396, tr. 330.
  6. Nguyễn Anh Trí (2011), Phát triển công tác vận động hiến máu tình nguyện theo hướng đa dạng hóa, Tài liệu “Hội nghị triển khai công tác vận động hiến máu tình nguyện năm 2011”, Hà Nội, tr39-43.
  7. Nguyễn Đức Thuận, Ngô Mạnh Quân, Bạch Quốc Khánh, Nguyễn Anh Trí (2007): “ Khảo sát nhận thức, thái độ và hành vi về hiến máu tình nguyện của  thanh niên tại Hà Nội, Bắc Giang và Vĩnh Phúc năm 2007”. Tạp chí Y học Việt Nam, tập 344, tr. 629-637.
  8. Nguyễn Đức Thuận, Ngô Mạnh Quân, Nguyễn Anh Trí (2008) , “ Can thiệp chuyển đổi hành vi trong vận động hiến máu tình nguyện”, Tạp chí Y học Việt Nam, tập 344, Tr. 89-95.
  9. Nguyễn Luân (2013), “Khảo sát nhận thức, thái độ và hành vi về hiến máu tình nguyện của sinh viên trong và ngoài quân đội 2012 - 2013” .  Đề tài nghiên cứu cấp cơ sở Học viện Quân Y năm 2012 - 2013.
  10. Nguyễn Văn Nhữ, Ngô Mạnh Quân, Nguyễn Xuân Thái, Chử Nhất Hợp, Triệu Thị Biển, Phạm Tuấn Dương, Nguyễn Anh Trí (2011):“ Thực trạng nhận thức, thái độ, hành vi của người hiến máu tại một số huyện vùng sâu, vùng xa” , Tạp chí Y học Việt Nam, số đặc biệt/2012-tập 396, tr. 336.
  11. Thông tư 26/2013/TT-BYT về hướng dẫn hoạt động truyền máu.
  12. Elias, E. and W. Mauka (2016). "Knowledge, Attitudes, Practices, and Factors Associated with Voluntary Blood Donation among University Students in Kilimanjaro, Tanzania." J Blood Transfus, pp.8546803.
  13. Gao, L. and Q. Wang (2017). "Survey on knowledge, attitude and practice about blood donation among continuing medical education (CME) students in Sichuan province, China." Transfus Apher Sci, pp.454-458.
  14. Mauka, W. I., et al. (2015). "Factors Associated with Repeat Blood Donation at the Northern Zone Blood Transfusion Centre in Tanzania." J Blood Transfus: pp.717653.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

MẪU PHIẾU PHỎNG VẤN

ĐỀ TÀI KHẢO SÁT KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, HÀNH VI CỦA SINH VIÊN NĂM NHẤT TRƯỚC VÀ SAU TỌA ĐÀM HIẾN MÁU
NĂM HỌC 2017 - 2018
Mã số phiếu: .........
I. HÀNH CHÍNH
1. Họ và tên :......................................................................
2. Giới tính : ..........
3. Tuổi        : ..........
4. Lớp        : ..........
5. Cân nặng : ..............
6. Địa chỉ    : .......................................................................
7. Dân tộc   : .......................................................................
8. Tôn giáo : .......................................................................
9. Gia đình bạn có ai là nhân viên y tế không ( nêu quan hệ nếu có )....................
10. Bạn đã gặp phải người cần truyền máu chưa?............. Quan hệ (nêu rõ nếu là người nhà hoặc không ghi nếu là bệnh nhân).......................................................
II. NỘI DUNG
Câu 1: Bạn đã nghe được hoặc tìm hiểu thông tin về hiến máu tình nguyện hay chưa?
  1. Đã tìm hiểu                    2. Có nghe qua               3. Không có thông tin(KTPV)
Câu 2: Bạn biết được thông tin về hiến máu nhân đạo thông qua phương thức gì?
  1. Ti vi, đài báo
  2. Qua Internet
  3. Tham gia chương trình do đoàn thanh niên tổ chức
  4. Qua tuyên truyền viên và nhân viên y tế
  5. Qua tờ rơi, áp phích hiến máu
  6. Qua người thân, bạn bè
Câu 3: Theo bạn, người hiến máu an toàn nhất là
1. Người hiến máu tình nguyện lần đầu
2. Người hiến máu chuyên nghiệp
3. Người hiến máu tình nguyện nhắc lại thường xuyên
4. Người thân hiến máu
Câu 4: Theo bạn, người bao nhiêu kg thì được tham gia hiến máu
1. Ít nhất 45 kg với nam và 42 kg với nữ        
2. Ít nhất 42 kg với nam và 40 kg với nữ
3. Ít nhất 45 kg với nam và nữ                          
4. Ít nhất 42 kg với nam và nữ
Câu 5: Theo bạn, độ tuổi có thể tham gia hiến máu là:
1.Từ 18-60 tuổi  3. Từ 18 tuổi trở lên
2.Từ 18-55 tuổi    4. Từ 18-65 tuổi
Câu 6: Theo bạn, người hiến máu được hiến tối đa bao nhiêu máu trong 1 lần hiến máu toàn phần
  1. 350 ml
  1. 450 ml
  1. 550 ml
 
Câu 7: Theo bạn, khoảng cách tối thiểu giữa 2 lần hiến máu toàn phần là
  1. 20 tuần
  1. 16 tuần
  1. 12 tuần
  1. 10 tuần
 
Câu 8: Theo bạn, máu toàn phần nhóm O truyền được cho những nhóm nào
  1. A
  1. B
    3.   AB     4.  O
 
Câu 9: Trong hệ ABO, nhóm máu nào có tỷ lệ gặp trong cộng đồng thấp nhất?
  1. A
  1. B
  1.  AB
  1. O
Câu 10: Có bao nhiêu hệ nhóm máu được sàng lọc trong đơn vị máu hiến
  1. 1
  1. 2
  1. 3
  1. 4
Câu 11: Theo bạn, hiến máu có hại cho sức khỏe không ?
  1. Không có hại nếu theo chỉ dẫn của bác sĩ
  2. Hiến máu chắc chắn có hại cho sức khỏe
  3. Không biết
Câu 12: Khi hiến máu có thể bị nhiễm bệnh không?
  1.  Có
  1. Không
 
Câu 13: Ngoài hiến máu toàn phần bạn còn biết hình thức hiến máu nào khác không?(kể tên nếu biết)
  1. Có. Kể tên....................                     2.  Không
Câu 14: Bạn có sẵn sàng hiến máu không?
  1. Có                                                     2. Không
Câu 15: Lý do bạn muốn hiến máu là gì? 
  1. Để cứu người                                              Y/N
  2. Để nhận được máu khi bản thân cần          Y/N
  3. Để đi kiểm tra sức khỏe bản thân               Y/N
  4. Bạn bè, người thân rủ đi hiến máu              Y/N
  5. Để giảm cân hoặc muốn tăng cân               Y/N
  6. Nhận quà, tiền và giấy chứng nhận            Y/N
  7. Khác ...........................................
Câu 16: Theo bạn, khi đi hiến máu có cần phải khai báo trung thực tình trạng sức khỏe trước khi hiến máu?
  1. Có, cần thiết.
  2. Không. Chỉ cần xét nghiệm máu là đủ, không cần thông tin khác
Câu 17: Bạn có sẵn sàng ủng hộ người thân, bạn bè đi hiến máu không?
  1. Có                                                       2. Không
Câu 18: Bạn có sẵn sàng đi tuyên truyền cho người khác hiến máu?
  1. Có                                                       2. Không
Câu 19: Bạn đã tham gia hiến máu chưa? (nếu có trả lời câu 20, 21, nếu chưa trả lời câu 23)
  1. Có                                                       2. Chưa
Câu 20: Bạn đã hiến máu mấy lần? ...
Câu 21: Bạn có ý định hiến máu tiếp không?(nếu có chuyển xuống câu 24)
  1. Có                                                         2. Không
Câu 22: Lý do khiến bạn không có ý định hiến máu tiếp?
  1. Do địa điểm hiến máu quá xa                                        Y/N
  2. Chưa thu xếp được thời gian                                          Y/N
  3. Do sự phục vụ lần hiến máu trước không hài lòng                  Y/N
  4. Do các tác dụng không mong muốn sau khi hiến máu   Y/N
  5. Tình nguyện thì chỉ một lần là đủ                                  Y/N
  6. Khác ...........................................
Câu 23: Lý do bạn chưa hiến máu vì:
  1. Sợ đau                                                                           Y/N
  2. Sợ người thân không ửng hộ                                          Y/N
  3. Sợ mất thời gian                                                            Y/N
  4. Chưa hiểu rõ về hiến máu                                              Y/N
  5. Sợ bị lây bệnh                                                                Y/N
  6. Sợ ảnh hưởng đến sức khỏe                                           Y/N
  7. Khác (ghi rõ lý do) ........................................................
Câu 24: Bạn có muốn trở thành 1 người tham gia tuyên truyền vận động hiến máu không?
  1. Có                                                     2. Không
Câu 25: Theo bạn, làm thế nào để phong trào hiến máu của nhà trường thêm vững mạnh và phát triển?
...................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
 Chủ nhiệm: Sinh viên Nguyễn Văn Bình, YHDPK9
anh co dinh lien he edit
 
 
 
 
 
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Xếp hạng: 0 - 0 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Tuần 23: Từ 29/05 đến 29/05/2019
Thứ 2:
- Giao ban VP
- Nhóm Dược - LCB HTC sinh nhật 3 tuổi
Thứ 3:
- Tổng hợp hồ sơ SV5T
- Lớp học CT scaner - CLB Học tích cực
Thứ 4:
- Họp xét Danh hiệu "Sinh viên 5 tốt", "Tập thể Sinh viên 5 tốt" cấp trường
- CLB YHCT sinh hoạt
Thứ 5:
- CLB Khoa học trẻ họp BCN
Thứ 6:
- Gửi hồ sơ xét tặng Sinh viên 5 tốt, Tập thể Sinh viên 5 tốt cấp tỉnh
Thứ 7:
Chủ nhật: - CLB Guitar sinh hoạt
- CLB Tiếng Anh sinh hoạt
Đăng ký nhận tin

Nhập địa chỉ email của bạn

Đăng nhập
Facebook
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây