SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH BẢN LĨNH, SÁNG TẠO, TÌNH NGUYỆN, HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN. THI ĐUA LẬP THÀNH TÍCH CHÀO MỪNG ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU HỘI SINH VIÊN VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH LẦN THỨ X, NHIỆM KỲ 2018 - 2020. HƯỚNG TỚI CHÀO MỪNG ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC HỘI SINH VIÊN VIỆT NAM LẦN THỨ X, NHIỆM KỲ 2018 - 2023.   
Năm mới

ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH TỰ CHĂM SÓC ĐỂ PHÒNG CÁC BIẾN CHỨNG CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TẠI 2 XÃ, HUYỆN VŨ THƯ, TỈNH THÁI BÌNH NĂM 2018

Thứ bảy - 04/05/2019 14:58
Mục tiêu:
1. Đánh giá kiến thức, thực hành tự chăm sóc để phòng biến chứng của người bệnh đái tháo đường tại 2 xã Tân hòa, Tân Phong, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình năm 2018.
2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành tự chăm sóc để phòng các biến chứng của người bệnh đái tháo đường tại 2 xã Tân hòa, Tân Phong, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình năm 2018.
TÓM TẮT
Mục tiêu:
1. Đánh giá kiến thức, thực hành tự chăm sóc để phòng biến chứng của người bệnh đái tháo đường tại 2 xã Tân hòa, Tân Phong, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình năm 2018.
2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành tự chăm sóc để phòng các biến chứng của người bệnh đái tháo đường tại 2 xã Tân hòa, Tân Phong, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình năm 2018.
Phương pháp: Mô tả cắt ngang
Kết quả: - Tỷ lệ người bệnh có kiến thức và thực hành tự chăm sóc để phòng biến chứng đái tháo đường đạt lần lượt là 15,9% và 11,9%.
- Nhóm bệnh nhân có trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở lên có kiến thức đạt và thực hành đạt về phòng biến chứng đái tháo đường cao hơn nhóm có trình độ dưới trung học phổ thông với p < 0,05.
- Nhóm bệnh nhân có kiến thức đạt thì có thực hành đạt cao hơn nhóm có kiến thức không đạt về tự chăm sóc để phòng chống biến chứng đái tháo đường với p < 0,05.
Kết luận: Nghiên cứu cho thấy cần phải nâng cao khả năng tự chăm sóc để phòng chống biến chứng đái tháo đường thông qua việc nâng cao kiến thức và thực hành cho người bệnh đái tháo đường và giáo dục sức khỏe là một trong những biện pháp quan trọng.
Từ khóa: Kiến thức; Thực hành; Tự chăm sóc phòng biến chứng, Đái tháo đường.
SUMMARY
Objectives: 
                    1. To identify knowledge, practice self-care to prevent complications of diabetes patients in Tan Hoa, Tan Phong, Vu Thu district, Thai Binh province in 2018.
               2. To identify factors related to knowledge and practice self-care to prevent complications of diabetic patients in Tan Hoa, Tan Phong, Vu Thu district, Thai Binh province in 2018.
Method: Cross sectional description
Results: - The rate of patients with knowledge and practice self-care to prevent diabetes are respectively 15.9% and 11.9%.
               - Patients with high school education or higher have knowledge of achieving and practicing of achieving better in diabetes management than patients with lower high school education with p <0.05.
               - Patients with knowledge of achieving had better practice of achieving than patients with no knowledge of achieving of self-care to prevent diabetes mellitus with p<0.05.
Conclusion: Research has shown that self-care needs to be improved to prevent diabetes complications through improved knowledge and practice for people with diabetes and health education is one of the most important measures.
Keywords: Knowledge; Practice; Self-care complications, Diabetes
I. Đặt vấn đề
Đái tháo đường (ĐTĐ) là một trong 4 căn bệnh có tốc độ phát triển nhanh nhất và là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở các nước đang phát triển. Theo Liên đoàn Đái tháo đường quốc tế (IDF), năm 2017 toàn thế giới có 415 triệu người (trong độ tuổi 20-79) bị bệnh đái tháo đường, tương đương cứ 11 người có một người bị đái tháo đường, đến năm 2040 con số này sẽ là 642 triệu, tương đương cứ 10 người có một người mắc bệnh [2]. Tại Việt Nam tình hình mắc bệnh đái tháo đường cũng đang có chiều hướng gia tăng mạnh. Theo kết quả điều tra về các yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm do Bộ Y tế thực hiện năm 2015, ở nhóm tuổi từ 18-69, cho thấy tỷ lệ đái tháo đường toàn quốc là 4,1%, tiền đái tháo đường là 3,6%, trong đó tỷ lệ đái tháo đường được chẩn đoán là 31,1%. Đặc biệt, tỷ lệ chưa được chẩn đoán trong cộng đồng là 69,9%, tức là bệnh nhân đã mắc bệnh nhưng chưa được phát hiện. Khi đó, bệnh sẽ diễn biến âm thầm, dẫn tới các biến chứng nguy hiểm. Trên thực tế, sự hiểu biết và tuân thủ chế độ điều trị của người bệnh (NB) mới là yếu tố quyết định. Để có hiệu quả điều trị tốt hơn, người bệnh không chỉ cần tuân thủ chế độ dùng thuốc mà bản thân họ còn cần có kiến thức để có thể kiểm soát được chế độ ăn uống, chế độ vệ sinh, chế độ luyện tập, cách phòng ngừa biến chứng. Vì vậy, để nâng cao kết quả điều trị nhóm nghiên cứu đã tiến hành đề tài với 2 mục tiêu:
1. Đánh giá kiến thức, thực hành tự chăm sóc để phòng biến chứng của NB ĐTĐ tại 2 xã Tân hòa, Tân Phong, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình năm 2018.
2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành tự chăm sóc để phòng các biến chứng của NB ĐTĐ tại 2 xã Tân hòa, Tân Phong, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình năm 2018.
II. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1 Địa điểm nghiên cứu: tại 2 xã Tân Phong, Tân Hòa, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
2.2 Đối tượng nghiên cứu: Người bệnh ĐTĐ có hộ khẩu thường trú tại địa bàn 2 xã Tân Phong và Tân Hòa, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình và được quản lý tại trạm y tế xã.
 + Tiêu chuẩn lựa chọn:
* Người bệnh ĐTĐ có hộ khẩu thường trú tại 2 xã Tân Phong, Tân Hòa, được quản lý tại trạm y tế xã và đã được cơ sở y tế (từ tuyến huyện trở lên) chẩn đoán và điều trị ĐTĐ.
* Người bệnh đang có mặt tại thời điểm phỏng vấn tại địa bàn 2 xã Tân Phong, Tân Hòa.
* Người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu.
+ Tiêu chuẩn loại trừ:
* Người bệnh không có khả năng tham gia trả lời phỏng vấn do khuyết tật (câm, điếc…).
* Người bệnh không đồng ý tham gia nghiên cứu.
2.3 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 12/2017 đến tháng 6/2018.
2.4 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.5 Cỡ mẫu: Lấy mẫu toàn bộ n = 151 (người bệnh)
2.6 Kỹ thuật tiến hành
+ Lấy danh sách người bệnh đã được chẩn đoán và điều trị ĐTĐ của 2 xã Tân Phong và Tân Hòa tại Trạm Y tế xã.
+ Tiến hành phỏng vấn trực tiếp theo bộ câu hỏi soạn sẵn.
+ Với câu hỏi người bệnh chưa hiểu sẽ được điều tra viên giải thích rõ ràng, nhưng không quá chi tiết, không gợi ý để người bệnh hiểu được và trả lời đúng  mục đích của câu hỏi.
+ Phần đánh giá thực hành của NB về phòng chống biến chứng ĐTĐ được thu thập bằng cách: người bệnh tự trả lời về các hoạt động đã làm bằng bộ câu hỏi về thực hành để phòng chống biến chứng ĐTĐ
2.7 Chỉ số nghiên cứu
- Tuổi, giới, trình độ học vấn, thời gian phát hiện bệnh, gia đình có người mắc bệnh, nguồn thông tin về bệnh, các thông tin được tư vấn từ cán bộ y tế
- Kiến thức và thực hành về điều trị, chế độ ăn, chế độ luyện tập và cách phòng và xử trí biến chứng ĐTĐ
* Cách tính điểm: Mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm. Kiến thức đạt: khi trả lời được ≥ 75% câu đúng. Kiến thức không đạt: khi trả lời được < 75% câu đúng. Thực hành đạt: khi trả lời được ≥ 75% câu đúng. Thực hành không đạt: khi trả lời được < 75% câu đúng.

2.8 Xử lý và phân tích số liệu: Các số liệu thu thập được nhập và xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0. Tính tỷ lệ %, tính giá trị trung bình. So sánh 2 tỷ lệ bằng kiểm định χ. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05.

III. Kết quả

Bảng 3.1 Tỷ lệ giới tính, tuổi, trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu (n=151)

Đặc điểm Số lượng Tỷ lệ (%)
Giới tính Nam 65 43,0
Nữ 86 57,0
Tuổi X ± SD (min-max): 60,6 ± 12,5 (21-87)
Nhóm tuổi <40 tuổi 14 9,3
≥ 40 tuổi 137 90,7
Trình độ học vấn < Trung học phổ thông (THPT) 115 76,2
≥ Trung học phổ thông 36 13,8
Nhận xét:
Trong tổng số 151 ĐTNC thì nam chiếm 43,0%, nữ chiếm 57,0%. Tuổi trung bình của ĐTNC là 60,6 ± 12,5 với tuổi nhỏ nhất 21 tuổi và lớn nhất là 87 tuổi. Nhóm tuổi chiếm phần lớn là ≥ 40 tuổi là 90,7%. Trình độ học vấn của ĐTNC chủ yếu là nhóm < THPT với 76,2%.

Bảng 3.2. Đặc điểm thời gian phát hiện bệnh, tiền sử gia đình có người thân mắc bệnh ĐTĐ của ĐTNC (n = 151)

Đặc điểm Số lượng Tỷ lệ (%)
Thời gian phát hiện bệnh < 1 năm 20 13,2
Từ 1-5 năm 60 39,7
> 5 năm 71 47,0
Gia đình có người thân mắc bệnh 26 17,2
Không 125 82,5
 
Nhận xét:
ĐTNC có thời gian phát hiện bệnh >5 năm là 47,0%, từ 1-5 năm 39,7% và <1 năm là 13,2%. Có 17,2% ĐTNC có tiền sử gia đình có người thân mắc ĐTĐ.

Bảng 3.3 Nguồn thông tin về bệnh và nội dung được tư vấn từ nhân viên y tế (n = 151)

Đặc điểm Số lượng Tỷ lệ (%)
Nguồn thông tin Cán bộ y tế 151 100
Báo/ đài/ tivi/internet 99 65,6
Người thân/ bạn bè 60 39,7
Nội dung được tư vấn từ nhân viên y tế Chế độ ăn 143 94,7
Chế độ tập luyện 41 27,2
Chế độ dùng thuốc 112 74,2
Hướng dẫn phòng, phát hiện và xử trí BC 31 20,5
 
Nhận xét:
Có 100% ĐTNC biết được các thông tin về bệnh từ NVYT; 65,6% biết được từ báo/ đài/ tivi/internet và 39,7% biết được từ người thân/ bạn bè. Trong 151 ĐTNC được NVYT tư vấn về ĐTĐ thì có 94,7% được tư vấn về chế độ ăn, 74,2% được tư vấn chế độ dùng thuốc, 27,2% tư vấn về chế độ luyện tập, 20,5% tư vấn về hướng dẫn phòng, phát hiện và xử trí biến chứng.

Biểu đồ 3.1: Kiến thức chung và thực hành chung của ĐTNC về tự chăm sóc phòng biến chứng ĐTĐ

Nhận xét: Trong tổng 151 ĐTNC có 15,9% có kiến thức chung đạt, 84,1% kiến thức chung chưa đạt. Tỷ lệ thực hành chung đạt là 11,9% và chưa đạt là 88,1%.

Bảng 3.4 Mối liên quan giữa nhóm tuổi, giới, trình độ học vấn với kiến thức chung về phòng chống biến chứng ĐTĐ (n = 151)

Đặc điểm Kiến thức chung p
 
Đạt n (%) Không đạt n (%)
Nhóm tuổi <40 tuổi 2(8,3) 12(9,4) > 0,05
≥ 40 tuổi 22(91,7) 115(90,6)
Giới Nam 11(45,8) 54(42,5) > 0,05
Nữ 13(54,2) 73(57,5)
Trình độ học vấn < THPT 9(37,5) 106(83,5) < 0,05
≥ THPT 15(62,5) 21(16,5)
Nhận xét: Sự khác biệt giữa nhóm tuổi, giới với kiến thức chung của người bệnh về tự chăm sóc để phòng chống biến chứng ĐTĐ không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. Nhóm bệnh nhân có trình độ học vấn từ THPT trở lên có kiến thức đạt về phòng biến chứng ĐTĐ cao hơn nhóm có trình độ dưới THPT với p < 0,05.

Bảng 3.5 Mối liên quan giữa nhóm tuổi, giới, trình độ học vấn và thực hành chung về phòng biến chứng ĐTĐ (n = 151)

Đặc điểm Thực hành chung P
 
Đạt n (%) Không đạt n (%)
Nhóm tuổi <40 tuổi 1(5,6) 13(94,4) > 0,05
≥ 40 tuổi 17(9,8) 120(90,2)
Giới Nam 5(27,8) 60(45,1) > 0,05
Nữ 13(72,2) 73(54,9)
Trình độ học vấn < THPT 7(38,9) 108(81,2) < 0,05
≥ THPT 11(61,1) 25(18,8)
 Nhận xét: Sự khác biệt giữa giữa nhóm tuổi, giới với thực hành chung của người bệnh về tự chăm sóc để phòng chống biến chứng ĐTĐ không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. Nhóm bệnh nhân có trình độ học vấn từ THPT trở lên có thực hành đạt về phòng biến chứng ĐTĐ cao hơn nhóm có trình độ dưới THPT với p < 0,05.

Bảng 3.6 Mối liên quan giữa kiến thức chung và thực hành chung về phòng chống biến chứng ĐTĐ (n = 151)

Thực hành
Kiến thức
Đạt Không đạt P
Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)
Đạt 15 83,3 9 6,7 < 0,05
Không đạt 3 16,6 124 93,2
Nhận xét: Nhóm bệnh nhân có kiến thức đạt thì có thực hành đạt cao hơn nhóm có kiến thức không đạt về tự chăm sóc để phòng chống biến chứng ĐTĐ với p < 0,05.
 
 
IV. Bàn luận
4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Trong  tổng số 151 mẫu nghiên cứu của chúng tôi, tuổi người bệnh thấp nhất là 21 tuổi và cao nhất là 87 tuổi, tuổi trung bình là 60,6 ± 12,5 tuổi. Trong nghiên cứu này, chúng tôi nhận thấy độ tuổi từ ≥ 40 chiếm tỷ lệ lớn nhất với 90,7% (137/151 người bệnh), tiếp theo là người bệnh trong độ tuổi < 40 tuổi với 14 người bệnh chiếm 9,3%. Kết quả nghiên cứu này tương tự nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đức Phát (2012) [6] nhóm dưới 40 có tỷ lệ thấp nhất và nhóm 51 - 70 có tỷ lệ cao nhất (65,4%). Điều này hoàn toàn phù hợp với dịch tễ học bệnh đái tháo đường tuýp 2 là tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường tăng tỷ lệ thuận theo tuổi [8]. Nghiên cứu có tỷ lệ nữ lớn hơn nam. Tỷ lệ nữ 57,0% còn tỷ lệ nam là 43,0%. Trình độ học vấn của ĐTNC chủ yếu là nhóm < THPT với 76,2%, còn lại nhóm ≥THPT là 13,8 %. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Đan (2011) [4] cho thấy tỷ lệ đái tháo đường ở đối tượng dưới phổ thông trung học là chủ yếu (70,2%).  Đặng Thị Hằng Thi (2013) [7] đa phần đối tượng có trình độ học vấn từ phổ thông trung học trở lên (83,6%). Điều này có thể giải thích do nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Đan (2011) [4] và nghiên cứu của chúng tôi là nghiên cứu tại một huyện nông nghiệp nên trình độ học vấn của người dân tại đây có trình độ dưới phổ thông trung học là chủ yếu, còn nghiên cứu của Đặng Thị Hằng Thi (2013) [7] là nghiên cứu thực hiện tại bệnh viện đặc thù của ngành công an nên trình độ phần lớn là trên phổ thông trung học.
NB có tiền sử gia đình mắc bệnh đái tháo đường là 17,2%. Tỷ lệ tương tự với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hồng Đan (2011) [4] với tỷ lệ người mắc đái tháo đường có tiền sử gia đình là 18,2%. Kết quả này hoàn toàn phù hợp, do yếu tố gen là một trong những yếu tố nguy cơ quan trọng gây bệnh đái tháo đường. Con bị mắc đái tháo đường thì bố mẹ hoặc ngược lại có khả năng mắc bệnh tới 40% và có tới 70% khả năng con mắc bệnh nếu cả bố mẹ đều mắc [1]. NB có thời gian phát hiện bệnh đái tháo đường từ 5 năm trở lên là 47,0%, từ 1-5 năm là 39,7%. Thấp nhất là nhóm có thời gian phát hiện bệnh dưới 1 năm là 13,2%. Kết quả nghiên cứu của tác giả Phạm Quang Cử (2009) [3] nhóm từ 5 năm trở lên là 20,1%, nhóm dưới 5 năm là 79,9%. Có 100% ĐTNC biết được các thông tin về bệnh từ NVYT; 65,6% biết được từ báo/ đài/ tivi/internet và 39,7% biết được từ người thân/ bạn bè. Trong 151 ĐTNC được NVYT tư vấn về ĐTĐ thì có 94,7% được tư vấn về chế độ ăn, 74,2% được tư vấn chế độ dùng thuốc, 27,2% tư vấn về chế độ luyện tập, 20,5% tư vấn về hướng dẫn phòng, phát hiện và xử trí biến chứng.
4.2 Kiến thức và thực hành tự chăm sóc để phòng chống ĐTĐ
Trong nghiên cứu này chúng tôi quy định những đối tượng có kiến thức đạt và thực hành đạt là từ 75% số điểm trở lên. Với tiêu chuẩn này, kết quả nghiên cứu cho thấy đối tượng có kiến thức chung đạt là 15,9%, 84,1% chưa đạt. Tỷ lệ người bệnh thực hành chung về tự chăm sóc đạt là 11,9% và chưa đạt là 88,1%. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Đan (2011) [4] tỷ lệ kiến thức đạt 70,2%, tỷ lệ thực hành đạt là 63%; Đặng Thị Hằng Thi (2013) [7] tỷ lệ kiến thức đạt là 62,8%, tỷ lệ thực hành đạt là 66%. Tuy nhiên, tiêu chuẩn đánh giá kiến thức và thực hành đạt và không đạt ở từng nghiên cứu là không giống nhau hoàn toàn nên sự chênh lệch chỉ mang tính chất tương đối.
4.3 Các yếu tố liên quan đến kiến thức chung và thực hành chung về tự chăm sóc để phòng các biến chứng của đối tượng nghiên cứu
Trong nghiên cứu kết quả cho thấy sự khác biệt giữa nhóm tuổi, giới với kiến thức chung của người bệnh về tự chăm sóc để phòng chống biến chứng ĐTĐ không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. Nhóm bệnh nhân có trình độ học vấn từ THPT trở lên có kiến thức đạt về phòng biến chứng ĐTĐ cao hơn nhóm có trình độ dưới THPT với p < 0,05. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Đan (2011) [4] và Đặng Thị Hằng Thi (2013) [7] có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa trình độ học vấn và kiến thức của ĐTNC.
Sự khác biệt giữa đặc điểm về nhóm tuổi, giới với thực hành chung của người bệnh về tự chăm sóc để phòng chống biến chứng ĐTĐ không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. Nhóm có trình độ học vấn từ THPT trở lên có tỷ lệ thực hành chung về tự chăm sóc để phòng chống biến chứng ĐTĐ đạt cao hơn nhóm có trình độ dưới THPT với p<0,05. Trình độ học vấn có thể có tác động tích cực tới thực hành phòng chống bệnh hàng ngày của đôi tượng nghiên cứu. Người có trình độ học vấn cao hơn có thể ý thức hơn về việc tuân thủ điều trị và những lợi ích của điều trị mang lại, do đó tỷ lệ người thực hành đạt yêu cầu phòng chống bệnh là cao hơn ở nhóm đối tượng này.
Nhóm bệnh nhân có kiến thức đạt thì có thực hành đạt cao hơn nhóm có kiến thức không đạt về tự chăm sóc để phòng chống biến chứng ĐTĐ với p < 0,05. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Đan (2011) [4] là 2,43 lần, Đặng Thị Hằng Thi (2013) [7] là 5,65 lần. Nghiên cứu của Nguyễn Trung Kiên (2011) [5] cũng có kết quả là nhóm có kiến thức đạt thì thực hành sẽ đạt cao hơn. Điều này cho thấy tầm quan trọng của công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe đến người bệnh đái tháo đường nói riêng và cộng đồng nói chung. Để tất cả người bệnh và người dân nhận thức được nguyên nhân, yếu tố nguy cơ gây bệnh, triệu chứng, biến chứng sự nguy hiểm mà những biến chứng của bệnh để có những biện pháp dự phòng ngay từ cộng đồng dân cư và thực hiện điều chỉnh chế độ ăn uống, vận động khoa học hợp lý, khám sức khỏe định kỳ nhằm góp phần giảm tỷ lệ đái tháo đường và biến chứng của bệnh.
V. Kết luận và khuyến nghị
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người bệnh có kiến thức chung và thực hành chung về tự chăm sóc để phòng biến chứng đái tháo đường đạt lần lượt là 15,9% và 11,9%. Nhóm bệnh nhân có trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở lên có kiến thức đạt và thực hành đạt về phòng biến chứng đái tháo đường cao hơn nhóm có trình độ dưới trung học phổ thông với p < 0,05. Nhóm bệnh nhân có kiến thức đạt thì có thực hành đạt cao hơn nhóm có kiến thức không đạt về tự chăm sóc để phòng chống biến chứng đái tháo đường với p < 0,05.
Nghiên cứu cho thấy cần phải nâng cao khả năng tự chăm sóc để phòng chống biến chứng đái tháo đường thông qua việc nâng cao kiến thức và thực hành cho người bệnh đái tháo đường và giáo dục sức khỏe là một trong những biện pháp quan trọng.
VI. Tài liệu tham khảo
1. Tạ Văn Bình (2007), Những nguyên lý nền tảng bệnh đái tháo đường tăng glucose máu, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.
2. Bộ Y tế (2017), “Tài liệu tóm tắt Atlat về đái tháo đường của liên đoàn đái tháo đường thế giới (IDF) công bố Atlas ấn bản lần thứ 8”, tr.1-3.
3. Phạm Quang Cử (2009), "Nghiên cứu yếu tố nguy cơ, biến chứng mạn tính của bệnh đái tháo đường", Tạp chí Y học thực hành. 694(12), tr. 69 - 72.
4. Nguyễn Thị Hồng Đan (2011), Kiến thức, thực hành phòng biến chứng của người bệnh đái tháo đường tuýp 2 tại huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yên năm 2010, Luận văn Thạc sỹ Y tế công cộng, Trường Đại học Y tế công cộng.
5. Nguyễn Trung Kiên, Lưu Thị Hồng Vân (2011), "Nghiên cứu kiến thức, thực hành về bệnh đái tháo đường của người bệnh đái tháo đường tuýp 2 tại bệnh viện đa khoa Hòa Bình - tỉnh Bạc Liêu năm 2010", Tạp chí Yhọc thực hành. 763(5), tr. 20-23.
6. Nguyễn Đức Phát, Hoàng Trung Vinh (2012), "Tỷ lệ, đặc điểm biến chứng thận ở người bệnh đái tháo đường typ 2 ", Tạp chí Y học thực hành. 825(6), tr. 52 - 54.
7. Đặng Thị Hằng Thi (2013), "Kiến thức, thực hành phòng biến chứng bàn chân của người bệnh đái tháo đường tuýp 2 tại Bệnh viện 19-8 Bộ công an, 2012", Tạp chí Y học thực hành. 856(1), tr. 38 - 42.
8. Ye-F. D (2014), "Achieving glycemic control inelderly patients with type 2 diabetes: a critical comparison of current options "Clinical Interventions in Aging, pp. 1963 - 1980.
Chủ nhiệm: Nguyễn Thị Nga(*),  Trần Thị Vân(*), Lê Thị Hồng(*), Nguyễn Thị Phượng(*)
 (*): Bộ môn Điều dưỡng trường ĐH Y Dược Thái Bình
anh co dinh lien he edit

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Xếp hạng: 0 - 0 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin cũ hơn

Tuần 23: Từ 29/05 đến 29/05/2019
Thứ 2:
- Giao ban VP
- Nhóm Dược - LCB HTC sinh nhật 3 tuổi
Thứ 3:
- Tổng hợp hồ sơ SV5T
- Lớp học CT scaner - CLB Học tích cực
Thứ 4:
- Họp xét Danh hiệu "Sinh viên 5 tốt", "Tập thể Sinh viên 5 tốt" cấp trường
- CLB YHCT sinh hoạt
Thứ 5:
- CLB Khoa học trẻ họp BCN
Thứ 6:
- Gửi hồ sơ xét tặng Sinh viên 5 tốt, Tập thể Sinh viên 5 tốt cấp tỉnh
Thứ 7:
Chủ nhật: - CLB Guitar sinh hoạt
- CLB Tiếng Anh sinh hoạt
Đăng ký nhận tin

Nhập địa chỉ email của bạn

Đăng nhập
Facebook
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây